|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU Bản án số: 74/2025/HNGĐ-ST Ngày: 14 – 4 – 2025 V/v “Tranh chấp xin ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Như.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Minh Thiệp.
Ông Trần Hoàng Giang.
Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 70/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2025 về: “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2025/QĐXXST–HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Hồ Thị L, sinh năm 1981 (Vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp X, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.
Bị đơn Ông Hồ Tấn Đ, sinh năm 1978 (Vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp G, xã N, huyện P, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai đề ngày 03/3/2025 nguyên đơn bà Hồ Thị L trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông Hồ Tấn Đ chung sống với nhau vào năm 1999 nhưng không đến cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm không giải quyết được, vợ chồng không hoà hợp và thường xuyên cự cải. Mặc dù, gia đình hai bên đã hoà giải nhưng không thể hàn gắn và duy trì mối quan hệ vợ chồng và hiện tại đã không còn chung sống với nhau. Xét thấy, hôn nhân không mang lại hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không hàn gắn được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Hồ Tấn Đ.
Về nuôi con chung: Có 02 người con chung tên Hồ Thị H, sinh ngày 10/01/2000; Hồ Minh N, sinh ngày 07/8/2009. Hiện con chung Hồ Thị H đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không yêu cầu xem xét. Đối với con chung Hồ Minh N đang sống với bà sau khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đồng thời, ngày 03/3/2025 bà Hồ Thị L có đơn đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt.
Bị đơn ông Hồ Tấn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do và không cung cấp tài liệu, chứng cứ hay ý kiến đối với nội dung khởi kiện của bà Hồ Thị L.
Tại phiên tòa: Bà L và ông Đ vắng mặt không có ý kiến trình bày khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Bà Hồ Thị L khởi kiện xin ly hôn với ông Hồ Tấn Đ là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn ông Hồ Tấn Đ, cư trú tại ấp G, xã N, huyện P, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Bà Hồ Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt; ông Hồ Tấn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Bà Hồ Thị L trình bày chung sống với ông Hồ Tấn Đ vào năm 1999 nhưng đến nay không thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn, có xác nhận của UBND xã P và UBND xã N, huyện P, tỉnh Cà Mau. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian sau phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, tính cách không hoà hợp. Xét thấy, hôn nhân không hạnh phúc nên bà L yêu cầu ly hôn, ông Đ không có ý kiến đối với yêu cầu của bà L.
Như vậy, bà L và ông Đ chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1999 nhưng đến nay không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Theo khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình... “Trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn (không phân biệt có vi phạm điều kiện kết hôn hay không) và có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý, giải quyết và áp dụng Điều 9 và Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ”. Khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”. Khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng...”. Do đó, Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà L và ông Đ là có căn cứ.
[2.2] Về nuôi con chung: Có 02 người con chung tên Hồ Thị H, sinh ngày 10/01/2000; Hồ Minh N, sinh ngày 07/8/2009. Hiện Hồ Thị H đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không yêu cầu xem xét. Đối với Hồ Minh N đang sống với bà L sau khi ly hôn bà L yêu cầu được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Ông Đ không có ý kiến đối với yêu cầu nuôi con của bà L.
Tại bản tự khai ngày 03/3/2025, con chung Hồ Minh N có nguyện vọng được sống cùng với mẹ. Hội đồng xét xử xét thấy, con chung hiện nay đang sống cùng với bà L vì vậy để ổn định môi trường sống của con chung và nguyện vọng của con nên tiếp tục giao con chung cho bà L nuôi dưỡng là phù hợp. Bà L không yêu cầu cấp dưỡng nên không đặt ra xem xét. Ông Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
[3] Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà L phải chịu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
[4] Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Áp dụng Điều 9, Điều 14, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:
Về hôn nhân: Không công nhận bà Hồ Thị L và ông Hồ Tấn Đ là vợ chồng.
Về nuôi con chung: Có 02 người con chung tên Hồ Thị H, sinh ngày 10/01/2000; Hồ Minh N, sinh ngày 07/8/2009. Hiện con chung Hồ Thị H đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không yêu cầu xem xét.
Giao người con chung tên Hồ Minh N, sinh ngày 07/8/2009 cho bà Hồ Thị L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Hồ Tấn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông Hồ Tấn Đ không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng quyền thăm con để gây ảnh hưởng đến việc nuôi con của bà Hồ Thị L.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Hồ Thị L phải chịu 300.000 đồng. Bà Hồ Thị L đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0003885 ngày 04 tháng 3 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau được chuyển thu.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Như |
Bản án số 74/2025/HNGĐ-ST ngày 14/04/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 74/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà Hồ Thị Lyêu cầu được ly hôn với ông Hồ Tấn Đ
