Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 74/2025/HS-PT

Ngày 21 - 02 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Quang;

Các Thẩm phán:

Ông Trần Nam Phương;

Ông Vũ Thế Phương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

Bà Tống Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 481/2024/TLPT-HS ngày 28 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Lê Văn C; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 224/2024/HS-ST ngày 20-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

Bị cáo có kháng cáo:

Lê Văn C, sinh năm 1972 tại Quảng Ninh; nơi đăng ký thường trú: Ấp B, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hoá: 08/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xương N (chết) và bà Lai Quang C1 (đã chết); gia đình 02 anh em, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình; có vợ là Lý Tắc P, sinh năm 1985 (đã ly hôn) và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại (có mặt).

Ngoài ra, trong vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác nhưng không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính:

Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 12/4/2022 Lê Văn C, sinh năm 1972 (có giấy phép lái xe hạng B2) đang điều khiển xe ô tô biển số 60C-214.59, lưu thông hướng D đi đường Q. Khi đến Km 30 + 600, tuyến đường 769, thuộc xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai, C điều khiển xe ô tô trong tình trạng ngủ gật, lấn trái sang phần đường ngược chiều dẫn đến việc va chạm vào xe ô tô đầu kéo biển số 51C-749.77 kéo theo rơmooc biển số 60R-016.56 do anh Lương Văn Trọng C2, sinh năm 1989, ngụ tại Ấp B, xã L, huyện T, tỉnh Đồng Nai là tài xế của Công ty D điều khiển lưu thông theo hướng ngược lại dẫn đến xe ô tô đầu kéo biển số 51C-749.77 kéo theo rơmooc biển số 60R-016.56 bị mất lái đâm vào cửa hàng thiết bị xây dựng Phú Tấn P1 do ông Đặng Thanh L sinh năm 1968 làm chủ; cửa hàng phụ kiện điện thoại di động Long Điền do chị Phạm Thị H, sinh năm 1978 làm chủ; trụ sở Công ty H3 do ông Nguyễn Thanh H1 làm chủ. Hậu quả về tính mạng không có, về tài sản bị hư hỏng gồm phần đầu xe của 02 xe ô tô trên, nhà và tài sản của ông Đặng Thanh L, chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Thanh H1 bị hư hỏng.

Tại sơ đồ hiện trường và biên bản khám nghiệm hiện trường thể hiện:

Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đường hơi cong về bên phải theo hướng lưu thông QL51 đi D.

Mặt đường trải nhựa phẳng có vạch sơn màu vàng liền nét phân chia đường thành hai chiều riêng biệt. Bên phải hướng D đi QL51 có ngã 3 không đồng cấp đi vào hướng ấp B. Một chiều đường có 2 làn đường rộng lần lượt là 3.50m, 2.00m.

Lấy mép đường bên phải theo hướng lưu thông Dầu Giây đi QL51 làm mép đường chuẩn.

Lấy trụ điện 62 ở bên trong mép đường chuẩn làm điểm mốc cố định.

Sau va chạm để lại các dấu vết sau:

(1) Vết cày của trục bánh trước bên trái xe ô tô biển số 60C-214.59 sau tai nạn tại hiện trường để lại vết cày (1) đứt quãng nằm trên mặt đường dài 32m20.

- Đầu vết cày cách mép đường chuẩn là 5m40.

- Cuối vết cày nằm tại trục bánh trước bên trái xe ô tô (2).

(2) Xe ô tô biển số 60C-214.59 sau tai nạn xe ô tô dừng, bánh trước bên trái bị gãy khỏi trục. Đầu xe hướng về đường quốc lộ 51, đuôi xe hướng về D.

- Trục bánh trước bên phải cách mép đường chuẩn là 4m20.

- Trục bánh sau bên phải cách mép đường chuẩn là 4m10, cách điểm mốc cố định là 13m50.

(3) Vết phanh bên trái của xe đầu kéo biển số 51C-749.77, sau tai nạn tại hiện trường để lại vết phanh trên mặt đường dài 23m30.

- Đầu vết phanh cách mép đường chuẩn là 6m20, cách đầu vết cày (1) là 2m00.

- Cuối vết phanh cách mép đường chuẩn là 2.00m.

(4) Vết phanh bên phải cửa bánh xe ô tô đầu kéo biển số 51C-749.77, sau tai nạn tại hiện trường để lại vết phanh (4) trên mặt đường dài 24m50.

- Đầu vết phanh cách mép đường chuẩn là 8m20.

- Cuối vết phanh cách mép đường chuẩn là 1m30.

(5) Xe ô tô biển số 51C-749.77 + 60R-016.56, sau tai nạn xe ô tô (5) dừng bên trong mép đường chuẩn. Đầu xe hướng vào nhà dân bị hư hỏng, đuôi xe hướng ra mép đường chuẩn.

- Trục bánh trước bên phải xe đầu kéo biển số 61C-749.77 cách mép đường chuẩn là 12m40.

- Trục bánh sau bên phải xe đầu kéo biển số 61C-749.77 cách mép đường chuẩn là 7m80.

- Trục bánh sau bên phải sơ mi rơmooc biển số 60R-016.56 cách mép đường chuẩn là 0m70.

- Trục bánh sau bên trái sơ mi rơmooc biển số 60R-016.56 cách trục bánh sau bên phải xe ô tô (2) là 49m40.

(6) Nhà dân bị hư hỏng, sau tai nạn tại hiện trường ghi nhận nhà dân bị hư hỏng, nhiều đồ đạc, tài sản trong nhà bị hư hỏng và bị xáo trộn (Bút lục số 02-08).

Tại Bản kết luận giám định số: 3429/KL-KTHS ngày 05/7/2022 của Phân viện KHHS tại TP . (C) - Bộ C4, kết luận:

  1. Xe ô tô biển số 60C-214.59 và xe ô tô biển số 51C-749.77 kéo Rơ mooc biển số 60R-016.56 có va chạm với nhau.
  2. Dấu vết trượt xước mất chất màu xanh bám chất màu trắng, biến dạng, gãy vỡ các chi tiết phía trước và bên trái xe ô tô biển số 60C-214.59 (cản trước, đèn chiếu sáng, cung chắn bùn, bánh xe, cửa trước, cửa sau, cung chắn bùn bánh sau) có chiều từ trước về sau, từ phải sang trái phù hợp dấu vết trượt xước mất chất màu trắng, bám chất màu xanh, gãy, biến dạng các chi tiết phía trước bên trái xe ô tô biển số 51C-749.77 kéo rơ mooc biển số 60R-016.56 (cản trước, biển số, đèn chiếu sáng, bậc lên xuống ca-bin, phía dưới cửa ca-bin) có chiều từ trước về sau phù hợp va chạm với vật cản.
  3. Dấu vết trượt xước gãy, biến dạng các chi tiết phía trước bên phải xe ô tô biển số 51C-749.77 kéo rơ - mooc biển số 60R-016.56 (cản trước, đèn chiếu sáng, bậc lên xuống ca-bin, phía trước cửa ca-bin) có chiều từ trước về sau phù hợp va chạm với vật cản.
  4. Vị trí va chạm giữa xe ô tô biển số 60C-214.59 và xe ô tô biển số 51C-749.77 kéo rơ mooc biển số 60R-016.56 trên mặt đường nằm bên trái đường ĐT 769, hướng từ D đi Quốc lộ E.
  5. Khi va chạm xe ô tô biển số 51C-749.77 kéo rơ mooc biển số 60R-016.56 chuyển động trên đường G hướng từ Quốc lộ E đi D, xe ô tô biển số 60C-214.59 chuyển động theo hướng ngược lại.
  6. Ngoài các dấu vết nêu trên, không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe ô tô biển số 60C-214.59 và xe ô tô biển số 51C-749.77 kéo rơ - mooc biển số 60R-016.56 với phương tiện, vật khác (Bút lục số 79).

Tại Kết luận định giá tài sản số: 147/KL-HĐĐGTS ngày 18/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự kết luận: Tài sản thiệt hại của ông Đặng Thanh L:

  • Vách tôn kích thước 12m x 06m, loại tôn Hoa Sen mạ màu, dày 3dem có giá trị là 5.664.000 đồng.
  • 02 cửa cuốn kích thước 3,9m x 3m70 có giá trị là 25.000.000 đồng.
  • 01 mô tơ cửa cuốn hiệu Technical specifications có giá trị là 3.500.000 đồng.
  • 50 cây tràm cừ đường kính 07cm, dài 4m/cây có giá trị là 1.500.000 đồng.
  • 03 cây sắt vuông 100x100mm, dài 06m, dày 1,8mm, loại sắt mạ kẽm có giá trị là 2.579.319 đồng.
  • 02 camera hiệu @Jhua IR Bullet, màu trắng có giá trị là 2.450.000 đồng.
  • 04 chân giàn giáo, cao 1m70, rộng 1m40 có giá trị là 1.700.000 đồng.
  • 16 cây chéo để gắn giàn giáo, 03kg/cây có giá trị là 1.040.000 đồng.
  • 01 xe rùa hiệu Trần Đà có giá trị là 850.000 đồng.
  • 27 cây chống tăng, nặng 13,8kg/cây có giá trị là 8.964.000 đồng.

Tổng trị giá tài sản bị xâm phạm là 53.247.319 đồng (Năm mươi ba triệu hai trăm bốn mươi bảy ngàn ba trăm mười chín đồng) (Bút lục số 83)

Tại kết luận định giá tài sản số: 149/KL-HĐĐGTS ngày 18/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự kết luận: Tài sản thiệt hại của ông Nguyễn Thanh H1:

  • Phần hư hỏng của xe ô tô biển số 51F-858.45:
    • + Làm đồng có giá trị là 2.350.000 đồng.
    • + S capo trước có giá trị là 1.625.000 đồng.
    • + S cản trước có giá trị là 1.350.000 đồng.
    • + S vè trước trái có giá trị là 1.350.000 đồng.
    • + S cửa trước trái có giá trị là 1.350.000 đồng.
  • Vách tường thạch cao kích thước 08m x 3,5m có giá trị là 12.065.000 đồng.
  • Trần thạch cao kích thước 05m x 2m40 có giá trị là 2.700.000 đồng.

Tổng trị giá tài sản bị xâm phạm là 22.790.000 đồng (Hai mươi hai triệu bảy trăm chín mươi ngàn đồng) (Bút lục số 91)

Tại Kết luận định giá tài sản số: 151/KL-HĐĐGTS ngày 18/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự kết luận: Giá trị bị hư hỏng của xe ô tô biển số 51C-749.77.

  • Két nước có giá trị là 4.750.000 đồng.
  • Cánh quạt có giá trị là 775.000 đồng.
  • Bọc gió cánh quạt có giá trị là 735.000 đồng.
  • Đèn pha có giá trị là 3.100.000 đồng.
  • Đèn xi nhan cảng có giá trị là 800.000 đồng.
  • Che nắng kính trước có giá trị là 1.400.000 đồng.
  • Cảng trước có giá trị là 2.550.000 đồng.
  • Bộ xương cảng bên trong có giá trị là 3.200.000 đồng.
  • Bàn đạp bước chân có giá trị là 900.000 đồng.
  • Bàn đạp nhôm có giá trị là 750.000 đồng.
  • Gò má có giá trị là 900.000 đồng.
  • Nẹp mũ đèn pha có giá trị là 300.000 đồng.
  • Kính hậu bên phụ có giá trị là 450.000 đồng.
  • Cây ba rò song dọc có giá trị là 1.550.000 đồng.
  • Kính chắn gió có giá trị là 1.600.000 đồng.
  • Kính cửa bên phụ có giá trị là 650.000 đồng.
  • Làm đồng cabin có giá trị là 19.500.000 đồng.
  • Sơn ca bin có giá trị là 10.600.000 đồng.
  • C3 thợ máy có giá trị là 2.000.000 đồng.
  • Xe cẩu có giá trị là 2.500.000 đồng.
  • Kiểm tra máy lạnh có giá trị là 1.500.000 đồng.

Tổng trị giá tài sản bị xâm phạm là 60.510.000 đồng (Sáu mươi triệu năm trăm mười ngàn đồng) (Bút lục số 99).

Tại kết luận định giá tài sản số: 150/KL-HĐĐGTS ngày 18/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự kết luận: Tài sản thiệt hại của bà Phan Thị H2:

  • 02 vách tôn lạnh mạ màu, loại 3dem, kích thước 04m x 09m/vách, loại tôn Hoa Sen + khung sắt ở giữa 02 vách tôn 07 cây sắt vuông 30x60, dài 09m/cây + 07 cây sắt vuông 40x80, dài 04m/cây, loại sắt Hoa Sen, có giá trị là 46.564.856 đồng.
  • Vách tôn lạnh mạ màu, loại 2dem, kích thước 3,6m x 04m, loại tôn Hoa Sen + 01 cây sắt vuông 30 x 60, dài 04m, loại 1,2mm, có giá trị là 2.065.515 đồng.
  • Mái tôn lạnh mạ màu, loại 4dem, kích thước 04m x 13m, loại tôn Hoa Sen, có giá trị là 4.248.790 đồng.
  • Mái tôn la phông, loại 3dem, kích thước 04m x 13m, loại tôn Hoa Sen + 03 cây sắt vuông 13 x 26, dài 13m/cây, loại 1,2mm, có giá trị là 4.186.299 đồng.
  • Vách tôn lạnh mạ màu, loại 3dem, kích thước 4m00 x 4m70 (hai lớp), loại tôn lạnh Hoa Sen + 04 cây sắt vuông 30x60, dài 04m/cây, loại 1.2mm + 02 cây sắt vuông 40 x 80, dài 4,7m/cây, loại 1.2mm + 05 cây sắt vuông 20x40, dài 04m/cây, loại 1.2mm, có giá trị là 3.829.356 đồng.
  • Mặt nền gạch men kích thước 04m x 12m, loại gạch 40 x 40, có giá trị là 24.960.000 đồng.
  • 01 chậu rửa tay 2 hố có bàn và chân bằng Inox 201, có giá trị là 2.200.000 đồng.
  • 01 bảng hiệu kích thước 2m50 x 4m00, chữ Alu nổi, có đèn pha, có giá trị là 11.250.000 đồng.
  • 01 bảng hiệu đèn led, kích thước 0m80 x 1m20, loại bảng hộp 02 mặt, có giá trị là 5.500.000 đồng.
  • 01 bảng Decan, kích thước 00m80 x 01m00, loại 02 mặt, có giá trị là 600.000 đồng.
  • 01 bảng quảng cáo bằng bạt, kích thước 1m30 x 02m, có giá trị là 1.470.000 đồng.
  • 01 bảng hiệu bằng bạt, kích thước 1m20 x 04m, có giá trị là 750.000 đồng.
  • 01 bộ cửa kính cường lực kích thước 04m x 3,3m, loại kính trắng 05mm, sắt không rỉ mạ kẻm 4 x 8, có giá trị là 28.500.000 đồng.
  • 02 khung cửa kính cường lực, loại kính trắng 05mm, kích thước 1,4m x 03m, khung sắt, có giá trị là 502.000 đồng.
  • 02 bóng đèn led loại dài 1,2m, hiệu Điện Quang, có giá trị là 112.000 đồng.
  • 04 bóng đèn led tròn loại 4Wh, hiệu Điện Quang, có giá trị là 84.000 đồng.
  • 01 quạt điện treo tường, hiệu SENKO, có giá trị là 297.500 đồng.
  • 01 quạt điện loại đứng, hiệu VINTA, có giá trị là 215.000 đồng.
  • 03 tấm xi măng (vách ngăn) Dura Flex, kích thước 06m x 03m, có giá trị là 322.500 đồng.
  • 01 giường gỗ kích thước 01m40 x 02m, loại ván ép (mua năm 2019), có giá trị là 2.400.000 đồng.
  • 01 ghế xoay (mua năm 2021), có giá trị là 725.000 đồng.
  • 01 bàn làm việc, loại gỗ bàng ván ép, dài 1,2m, rộng 80cm, cao 01m, có giá trị là 1.200.000 đồng.
  • 01 bàn thờ ông địa, loại gỗ xoan, kích thước 70cm x 70cm x 1m10, có giá trị là 3.250.000 đồng.
  • 01 tủ lạnh nhãn hiệu Toshiba, dung tích 2331 (mua tháng 04/2021), có giá trị là 2.825.000 đồng.
  • 01 tủ nhôm kính, cao 1,15m, rộng 80cm, có giá trị là 1.150.000 đồng.
  • 01 máng xối bằng tôn dài 04m x 20cm, có giá trị là 630.000 đồng.
  • 12 tấm lưới sắt dùng để treo phụ kiện điện thoại, kích thước 1m15 x 01m70, có giá trị là 1.950.000 đồng.
  • 08 tấm lưới sắt dùng để treo phụ kiện điện thoại, kích thước 01m x 01m, có giá trị là 1.720.000 đồng.
  • 03 cây sắt vuông 13x26, dài 05m/cây, loại 1.00mm, có giá trị là 273.500 đồng.
  • 15 cây xà gồ sắt vuông 30x60, dài 04m/cây, loại 1,2mm, có giá trị là 3.324.500 đồng.
  • 02 cây sắt vuông 30x30, dài 05m/cây, loại 1.2mm, có giá trị là 165.000 đồng.
  • 01 cây trụ bảng hiệu sắt phi D90, dài 03m, loại 1,2mm, có giá trị là 258.000 đồng.
  • 01 cây trụ bảng hiệu sắt vuông 40 x 80, dài 05m, loại 1,2mm, có giá trị là 364.000 đồng.
  • Phần hư hỏng của xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 59G1-970.47.
    • + Tiền công sửa chữa, có giá trị là 425.000 đồng.
    • + Gương trái, có giá trị là 91.000 đồng.
    • + Cụm gương phải, có giá trị là 118.000 đồng.
    • + Tấm cách nhiệt a ống xả, có giá trị là 62.000 đồng.
    • + Chân chống chính, có giá trị là 224.000 đồng.
    • + Chân chống bên, có giá trị là 73.500 đồng.
    • + Bộ nắp tay lái trước *NHB35P*, có giá trị là 134.000 đồng.
    • + Bộ nắp tay lái sau *NHB35P*, có giá trị là 190.000 đồng.
    • + Chắn bùn trước *NHB35P*, có giá trị là 209.000 đồng.
    • + Bộ ốp sàn bên phải *NHB35P*, có giá trị là 145.000 đồng.
    • + Bộ ốp sàn bên trái *NHB35P*, có giá trị là 145.000 đồng.
    • + Bộ ốp sườn bên phải *NHB35P*, có giá trị là 280.500 đồng.
    • + Bộ ốp sườn bên trái *NHB35P*, có giá trị là 280.500 đồng.
    • + Đèn xi nhan trước phải, có giá trị là 127.000 đồng.
    • + Đèn xi nhan trước trái, có giá trị là 127.000 đồng.
    • + Kẹp, có giá trị là 73.500 đồng.
    • + Bóng đèn xi nhan, có giá trị là 19.500 đồng.
    • + Ốp nhựa trung tâm *YR286R*, có giá trị là 64.000 đồng.
    • + Bộ ốp dưới *YR286R*, có giá trị là 100.500 đồng.
    • + Bộ mặt nạ trước *NH-1*, có giá trị là 44.000 đồng.
    • + Bộ ốp sườn trước trái *YR286R*, có giá trị là 130.500 đồng.
    • + Chắn bùn sau, có giá trị là 133.000 đồng.
    • + Chắn bùn sau bên trong, có giá trị là 47.000 đồng.
    • + Nắp chắn quạt, có giá trị là 69.000 đồng.
    • + Nắp ốp xi nhan sau phải *NH1*, có giá trị là 15.000 đồng.
    • + Nắp ốp xi nhan sau trái *NH1*, có giá trị là 15.000 đồng.
    • + Bộ ốp dưới sau *NH1*, có giá trị là 20.000 đồng.
    • + Bộ ốp sườn trước phải *NHB35*, có giá trị là 224.000 đồng.
    • + Bộ ốp sườn trước trái *NHB35*, có giá trị là 224.000 đồng.
    • + Ốp trên bên trong *NHB35P*, có giá trị là 250.500 đồng.
    • + Bộ ốp trung tâm sau *NHB35P*, có giá trị là 84.000 đồng.
    • + Chốt cài, có giá trị là 165.000 đồng.
    • + Lò xo a chân chống bên, có giá trị là 14.000 đồng.
    • + Ép chảng ba, có giá trị là 250.000 đồng.
    • + Ép sườn - ép chảng ba, có giá trị là 1.200.000 đồng.
    • + Mặt nạ kiểu, có giá trị là 445.000 đồng.
    • + Thảm xi, có giá trị là 350.000 đồng.

Tổng trị giá tài sản bị xâm phạm là 164.461.816 đồng (Một trăm sáu mươi bốn triệu bốn trăm sáu mươi mốt ngàn tám trăm mười sáu đồng) (Bút lục số 101).

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

  • 01 xe ô tô đầu kéo biển số 51C-749.77 kéo theo rơmooc biển số 60R-016.56 kèm theo giấy chứng nhận kiểm định và giấy đăng ký xe, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả lại cho anh Lê Phương L1.
  • 01 giấy phép lái xe hạng E, FC số [...] ngày 18/12/2020 của Sở giao thông vận tải thành phố H trả cho anh Lương Văn Trọng C2.
  • 01 đĩa CD ghi lại hành vi phạm tội của Lê Văn C chuyển kèm theo hồ sơ vụ án.
  • 01 xe ô tô biển số 60C-214.59 kèm theo 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 6270312 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 026437 chuyển đến Chi Cục thi hành án.
  • 01 giấy phép hạng B2 mang tên Lê Văn C chuyển kèm theo hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Văn C chưa bồi thường thiệt hại cho các bị hại. Bị hại Phạm Thị H yêu cầu C bồi thường số tiền 164.531.816 đồng (trong đó bồi thường theo yêu cầu định giá tài sản là 164.461.816 đồng, bồi thường 70.000.000 đồng tiền thuê mặt bằng), anh Lê Phương L1, sinh năm 1981 (đại diện công ty D) yêu cầu C bồi thường số tiền 60.510.000 đồng (trong đó bồi thường theo kết luận định giá tài sản là 60.510.000 đồng và 15.000.000 đồng tiền chi phí kéo xe). Anh Nguyễn Thanh H1 yêu cầu C bồi thường số tiền 22.790.000 đồng, ông Đặng Thanh L yêu cầu bị cáo C bồi thường số tiền 53.247.319 đồng.

2. Quyết định của cấp sơ thẩm:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 224/2024/HS-ST ngày 20-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành đã quyết định:

Áp dụng khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ năm 2008; điểm d khoản 1 Điều 260 và điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn C 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ chấp hành án.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • Tuyên trả lại 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số [...] mang tên Lê Văn C cho bị cáo C
  • Tạm giữ 01 xe ô tô biển số 60C-214.59, số máy: P4AT1212463, số khung FF80FW311914, nhãn hiệu FORD, kèm theo 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 6270312 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 026437 đảm bảo thi hành án theo Quyết định chuyển vật chứng số 127/QĐ-VKS-LT ngày 23/7/2024 và biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/7/2024 của Cơ quan điều tra Công an huyện L và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 589, Điều 601 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  1. Buộc bị cáo C phải bồi thường thiệt hại tài sản cho bà Phạm Thị H với số tiền là 164.461.816 đồng (một trăm sáu mươi bốn triệu bốn trăm sáu mươi mốt nghìn tám trăm mười sáu đồng).
  2. Buộc bị cáo C phải bồi thường thiệt hại tài sản cho Công ty TNHH D với số tiền là 60.510.000 đồng (sáu mươi triệu năm trăm mười nghìn đồng).
  3. Buộc bị cáo C phải bồi thường thiệt hại tài sản cho ông Nguyễn Thanh H1 với số tiền là 22.790.000 đồng (hai mươi hai triệu bảy trăm chín mươi nghìn đồng).
  4. Buộc bị cáo C phải bồi thường thiệt hại tài sản cho ông Đặng Thanh L, bà Tống Thị Q với số tiền là 53.247.319 đồng (năm mươi ba triệu hai trăm bốn mươi bảy nghìn ba trăm mười chín đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo luật định.

3. Kháng cáo:

Trong thời hạn luật định, bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo.

4. Quan điểm của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm:

- Về tội danh:

Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 260 là có căn cứ, đúng quy định.

- Về kháng cáo và hình phạt:

Tòa án cấp sơ thẩm xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự xử phạt bị cáo mức án 02 năm tù là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật; do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Đối với các tình tiết giảm nhẹ bị cáo cung cấp tại cấp phúc thẩm đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về tội danh:

Theo các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, nội dung Bản án sơ thẩm; các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội; do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

3.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

3.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • Tại cấp sơ thẩm: Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  • Tại cấp phúc thẩm: Bị cáo đã nộp khắc phục toàn bộ số tiền bồi thường thiệt hại theo nội dung Bản án sơ thẩm đã tuyên; bị cáo đã ly hôn vợ đang cấp dưỡng nuôi 02 con nhỏ là các tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 áp dụng cho bị cáo.

[4] Về kháng cáo và hình phạt:

Bị cáo phạm tội do lỗi vô ý, hậu quả các bị hại bị thiệt hại về tài sản và đã được bị cáo bồi thường, khắc phục toàn bộ, không gây thiệt hại về người. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội; áp Điều 65 của Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số: 02/2022/VBHN-TANDTC ngày 07 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự giữ nguyên mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách cũng đủ răn đe, giáo dục đối với bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Ghi nhận việc bị cáo đã bồi thường xong toàn bộ trách nhiệm dân sự theo nội dung của Bản án hình sự sơ thẩm số: 224/2024/HS-ST ngày 20-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành. Những người bị hại trong vụ án gồm: Bà Phạm Thị H, Công ty TNHH D, ông Nguyễn Thanh H1, ông Đặng Thanh L và bà Tống Thị Q được liên hệ với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai để nhận khoản tiền bồi thường theo nội dung Bản án sơ thẩm đã tuyên. Tiếp tục tạm giữ số tiền 301.009.135 đồng (ba trăm lẻ một triệu không trăm lẻ chín nghìn một trăm ba mươi lăm đồng) theo Biên lai thu tiền số 0000848 bị cáo Lê Văn C đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai để đảm bảo thi hành án cho các bị hại nêu trên.

[6] Về xử lý vật chứng:

Do bị cáo đã thực hiện xong việc bồi thường, do đó trả lại cho bị cáo 01 xe ô tô biển số 60C-214.59, số máy: P4AT1212463, số khung FF80FW311914, nhãn hiệu FORD, kèm theo 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 6270312 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 026437 theo Quyết định chuyển vật chứng số 127/QĐ-VKS-LT ngày 23/7/2024 và biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/7/2024 của Cơ quan điều tra Công an huyện L và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành.

[7] Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo Lê Văn C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[8] Chấp nhận một phần ý kiến của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn C; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 224/2024/HS-ST ngày 20-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành về hình phạt do có tình tiết mới.

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Lê Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn C 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (21-02-2025).

Giao bị cáo Lê Văn C cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Việc vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú của người được hưởng án treo thì được thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Ghi nhận việc bị cáo đã bồi thường xong toàn bộ trách nhiệm dân sự theo nội dung của Bản án hình sự sơ thẩm số: 224/2024/HS-ST ngày 20-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành. Những người bị hại trong vụ án gồm: Bà Phạm Thị H, Công ty TNHH D, ông Nguyễn Thanh H1, ông Đặng Thanh L và bà Tống Thị Q được liên hệ với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai để nhận khoản tiền bồi thường theo nội dung Bản án sơ thẩm đã tuyên. Tiếp tục tạm giữ số tiền 301.009.135 đồng (ba trăm lẻ một triệu không trăm lẻ chín nghìn một trăm ba mươi lăm đồng) theo Biên lai thu tiền số 0000848 bị cáo Lê Văn C đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai để đảm bảo thi hành án cho các bị hại nêu trên.

3. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Trả lại cho bị cáo 01 xe ô tô biển số 60C-214.59, số máy: P4AT1212463, số khung FF80FW311914, nhãn hiệu FORD, kèm theo 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 6270312 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 026437 theo Quyết định chuyển vật chứng số 127/QĐ-VKS-LT ngày 23/7/2024 và biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/7/2024 của Cơ quan điều tra Công an huyện L và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành.

4. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Lê Văn C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

5. Quyết định của Bản án sơ thẩm về án phí hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • Bị cáo;
  • Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • Tòa án nhân dân huyện Long Thành (2);
  • Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Thành;
  • Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an huyện Long Thành;
  • Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Long Thành;
  • Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành;
  • Phòng Hồ sơ - Công an tỉnh Đồng Nai;
  • Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Hình sự, Văn phòng và Thẩm phán (4).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2025/HS-PT ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 74/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận kháng cáo của bị cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger