TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 74/2025/DS-ST
Ngày: 04/02/2025
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Cẩm
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Ngọc Hạnh.
- Ông Lê Trung .
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Đang – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 02 năm 2025, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 985/2024/TLST-DS ngày 27/11/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1058/QĐXXST-DS ngày 24/12/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2025/QĐST-DS ngày 14/01/2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S
Trụ sở: 2 N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức danh: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Công ty TNHH MTV Q và Khai thác tài sản Ngân hàng S (Công ty S1) có ông Lê Ngọc T là người đại diện theo pháp luật của công ty -: Tổng Giám đốc. (Theo Giấy ủy quyền số 2535A/2022/GUQ-PL ngày 12/10/2022)
Người được ủy quyền: Ông Trần Gia T1, sinh năm: 1971; Địa chỉ: B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo Giấy ủy quyền số 9181/2024/UQ-TGĐ lập ngày 30/12/2024) (Ông T1 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hồ Trung K, sinh năm: 1994; Địa chỉ: Nhà K, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Ông K vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 26/02/2024; các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có người đại diện theo ủy quyền là ông Trần Gia T1 trình bày:
Ngày 01/12/2018, ông K có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), hạn mức tín dụng là 15,000,000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Cụ thể như sau:
| Loại thẻ | Số thẻ | Hạn mức | Ngày ký hợp đồng | Lãi suất áp dụng |
|---|---|---|---|---|
| Master | 512341 - 5519 | 15,000,000 | 01/12/2018 | 1.7%/tháng |
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông K đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 71,899,821 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông K đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 68,475,722 đồng (chi tiết các lần thanh toán trong bảng sao kê tóm tắt đính kèm). Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau:
- + Các khoản phí và/ hoặc lãi của kỳ trước
- + Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước
- + Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước
- + Các khoản phí và/ hoặc lãi trong kỳ
- + Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ
- + Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông K vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông K vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), nên ngày 23/09/2022 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 15,331,341 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại).
Do ông K vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng yêu cầu ông K phải trả số tiền còn thiếu tính đến ngày 14/01/2025 là 26,343,381 đồng. Cụ thể là:
| Loại thẻ | Số thẻ | Nợ gốc | Lãi quá hạn | Lãi suất áp dụng |
|---|---|---|---|---|
| Master | 512341 - 5519 | 15,331,341 | 11,285,712 | 2.55% (1.7% x 150%) |
Mặc dù, Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với ông K, yêu cầu có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ, tuy nhiên ông K vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.
Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng TMCP S kính đề nghị Quý Tòa giải quyết những vấn đề sau đây đối với bị đơn ông Nguyễn Hồ Trung K, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Buộc Ông Nguyễn Hồ Trung K phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 04/02/2025 là 26.617.053 đồng (Hai mươi sáu triệu. sáu trăm mười bảy ngàn không trăm năm mươi ba đồng) trong đó:
- - Nợ gốc : 15.331.341 đồng
- - Lãi quá hạn : 11.285.712 đồng
Và có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 05/02/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất qui định tại Hợp đồng.
- Bị đơn ông Nguyễn Hồ Trung K vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án và không có bất kỳ văn bản nào phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
- + Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên thời hạn chuẩn bị xét xử chưa đảm bảo theo quy định tại Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- + Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; về án phí: ông Nguyễn Hồ Trung K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
[2.1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với bị đơn ông Nguyễn Hồ Trung K. Đây là tranh chấp hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo kết quả trả lời xác minh của Công an xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh thì ông K có thực tế cư trú tại nhà không số ấp D, xã V, huyện B, vì vậy căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
[3] Về sự vắng mặt của các đương sự:
- Đối với nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có ông Trần Gia T1 có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông T1 theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Đối với bị đơn, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập đương sự tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự cho ông Nguyễn Hồ Trung K nhưng ông K vẫn không đến tham gia tố tụng tại Tòa án nên Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[4] Về áp dụng pháp luật: Do giao dịch giữa các đương sự xác lập vào thời điểm Bộ luật dân sự năm 2015, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 có hiệu lực nên Tòa án áp dụng Bộ luật dân sự năm 2015 và Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 để giải quyết vụ án.
[5] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy như sau: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Hồ Trung K thanh toán toàn bộ số nợ gốc, lãi quá hạn tính đến ngày 04/02/2025 là 26.617.053 đồng (Hai mươi sáu triệu sáu trăm mười bảy ngàn không trăm năm mươi ba đồng) và thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 05/02/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất qui định tại Hợp đồng.
[6] Còn bị đơn ông Nguyễn Hồ Trung K mặc dù đã được Tòa án triệu tập đến để ghi nhận ý kiến, tiến hành thủ tục giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như việc tham gia phiên tòa xét xử giải quyết vụ án với nguyên đơn nhưng ông K vẫn vắng mặt. Vì vậy, ông K đã tự từ bỏ quyền được chứng minh của mình, phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự. Đồng thời, tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ yêu cầu khởi kiện cũng như tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp; tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập để làm cơ sở xem xét giải quyết vụ án.
[7] Qua xem xét Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân ngày 01/12/2018 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và ông Nguyễn Hồ Trung K là phù hợp theo quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ Bản tóm tắt sao kê, lịch sử thanh toán và lời khai của nguyên đơn có cơ sở xác định tính đến ngày 04/02/2025 bị đơn còn nợ nguyên đơn nợ gốc còn lại là 15.331.341 đồng và lãi quá hạn là 11.285.712 đồng, tổng cộng là 26.617.053 đồng (Hai mươi sáu triệu sáu trăm mười bảy ngàn không trăm năm mươi ba đồng).
[8] Hội đồng xét xử xét thấy, theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần M thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần S là tổ chức tín dụng, vì vậy theo quy định tại khoản 2 Điều 3 và khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 thì: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.
Việc bị đơn ngưng trả tiền theo thỏa thuận cho nguyên đơn là đã vi phạm điều khoản thanh toán của của hợp đồng tín dụng. Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Hồ Trung K trả số tiền gốc và lãi nêu trên là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại các Điều 91, Điều 95 và Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
[9] Từ những căn cứ đã viện dẫn, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đối với bị đơn ông Nguyễn Hồ Trung K, buộc bị đơn ông Nguyễn Hồ Trung K có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số nợ gốc là 15.331.341 đồng và lãi quá hạn phát sinh tính đến ngày 04/02/2025 là 11.285.712 đồng, tổng cộng là 26.617.053 đồng (Hai mươi sáu triệu sáu trăm mười bảy ngàn không trăm năm mươi ba đồng) và tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc tính từ ngày 05/02/2025 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất được các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 01/12/2018.
[10] Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị đơn ông Nguyễn Hồ Trung K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[11] Xét lời đề nghị của đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 3, khoản 2 Điều 92, Điều 95 và Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đối với bị đơn ông Nguyễn Hồ Trung K về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
- Buộc ông Nguyễn Hồ Trung K có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số nợ gốc và tiền lãi tính đến ngày 04/02/2025 là 26.617.053 đồng (Hai mươi sáu triệu sáu trăm mười bảy ngàn không trăm năm mươi ba đồng).
- Kể từ ngày 05/02/2025, ông Nguyễn Hồ Trung K còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Bị đơn ông Nguyễn Hồ Trung K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.330.851 đồng (Một triệu ba trăm ba mươi nghìn tám trăm năm mươi mốt đồng).
- - Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S được nhận lại số tiền tạm ứng án phí là 528.916 đồng (Năm trăm hai mươi tám nghìn chín trăm mười sáu đồng) theo Biên lai thu số 0012223 ngày 25/03/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hồng Cẩm |
Bản án số 74/2025/DS-ST ngày 04/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 74/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NH khởi kiện hợp đồng tín dụng
