Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG HỒ

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2024/HS-ST

Ngày: 05-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Vĩnh.

Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Minh Toàn.
  2. Bà Nguyễn Thị Hương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Trúc Phương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Lê Tây Bắc- Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 72/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Đức T, sinh ngày 03 tháng 01 năm 1991, tại tỉnh Vĩnh Long.

Nơi cư trú: Số A, khóm M, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: kế toán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thanh N, sinh năm 1962 (chết) và bà Phạm Thị Ngọc L, sinh năm 1964 (chết); vợ tên Trần Thị Thanh T1, sinh năm 1992; con 02 người, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2018; anh chị em ruột: có 03 người, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh 1994; tiền sự: chưa; tiền án: chưa.

Bị tạm giữ từ ngày 18/9/2024; tạm giam từ ngày 24/9/2024. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người làm chứng: Lê Văn Bé H, sinh năm 1957. Địa chỉ: ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long- vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo là người đã sử dụng ma túy. Khoảng 10 giờ 50 phút ngày 18/9/2024, bị cáo Lê Đức T thuê xe honda khách của một thanh niên không rõ nhân thân đi mua ma túy sử dụng. Đến khoảng 11 giờ 20 phút cùng ngày, bị có đến khu vực Đền T2 thuộc ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. Bị cáo gặp một thanh niên không rõ lai lịch chạy xe Exciter màu đen không biển số mua 300.000 đồng ma túy. Bị cáo nhận ma túy để vào ví da màu đen để vào túi quần bên phải phía sau đang mặc. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi bị cáo đang đứng đón xe thì bị Công an huyện L kiểm tra, phát hiện và thu người trên người bị cáo:

  • 01 bịch nylon bóp miệng viền màu đỏ chứa tinh thể màu trắng.
  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh.
  • 01 ví da màu đen.
  • Tiền việt N1: 100.000 đồng.

Theo Kết luận giám định số 612/KL-KTHS ngày 23/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh V, kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng trong bịch nylon thu giữ của bị cáo là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,2353 gam.

Ngày 23/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (gọi tắt là Bộ luật hình sự).

Cáo trạng số 72/CT-VKSLH ngày 05/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ truy tố Lê Đức T về tội “Tàng trữ trái phép chấp ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung Cáo trạng số 72/CT-VKSLH ngày 05/11/2024, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Đức T từ 01(một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (một) năm tù. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy Methamphetamine còn lại sau giám định. Hoàn trả bị cáo 01 ví da màu đen, 100.000 đồng và điện thoại di động hiệu S. Nhưng đề nghị tiếp tục quản lý 100.000 đồng để đảm bảo thi hành án. Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi cất ma túy trong người đúng như Cáo trạng số 72/CT-VKSLH ngày 05/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Đức T thừa nhận hành vi cất giữ ma túy trong túi quần bên phải phía sau đúng như Cáo trạng số 72/CT.VKSLH ngày 05/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ đã truy tố bị cáo. Hành vi cất giữ ma túy của bị cáo bị phát hiện tại ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. Nên Toà án nhân dân huyện Long Hồ thụ lý giải quyết sơ thẩm là đúng theo quy định tại Điều 269 của Bộ luật tố tụng hình sự

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định khoa học hình sự. Bị cáo xác định không khiếu nại đối với quá trình tiến hành tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của Điều tra viên, của Kiểm sát viên và lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung hay dùng nhục hình. Do đó, hành vi và chứng cứ, tài liệu của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo không yêu cầu thay đổi Hội thẩm nhân dân theo đúng quyết định đưa vụ án ra xét xử, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Tại phiên toà, bị cáo khai nhận:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 18/9/2024, sau khi mua ma túy của người thanh niên không rõ lai lịch. Bị cáo bỏ ma túy vào trong ví màu đen để vào túi quần bên phải phía sau. Bị cáo đang đứng đón xe thì bị Công an huyện L kiểm tra, phát hiện, bắt và thu người trên người bị cáo 01 bịch nylon bóp miệng viền màu đỏ chứa 0,2353 gam Methamphetamine.

Bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và đủ năng lực hành sự. Bị cáo thực hiện hành vi cất giấu ma túy trên người là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm khách thể của Bộ luật hình sự bảo vệ: Đó là chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Do đó, đã đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách pháp luật của Nhà nước về quản lý các chất ma túy; gây mất an ninh trật tự tại địa phương; ảnh hưởng trực tiếp đến phong trào T dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư. Chúng ta biết, ma túy là chất hướng thần, người sử dụng ma túy sẽ bị gây ảo giác và dễ nghiện, ảnh hưởng đến sức khỏe, ảnh hưởng đến tinh thần, thậm chí mất khả năng nhận thức. Ma túy là một tệ nạn xã hội thường dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng khác như trộm cắp, cướp giật, gây thương tích. Vì vậy, để đấu tranh ngăn chặn tệ nạn ma túy nói chung, người tàng trữ ma túy nói riêng, nhằm giữ gìn trật tự công cộng, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, góp phần xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư, nên cần xử lý bị cáo nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[2.2]. Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo là người tham gia dân quân tự vệ từ tháng 3/2011. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[2.3]. Về hình phạt bổ sung:

Xét hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo, nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[3]. Về vật chứng:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy chất Methamphetamine còn lại sau giám định là đúng pháp luật.

Một ví da màu đen, một điện thoại di động hiệu samsung và 100.000 đồng là tài sản của bị cáo, không phải là công cụ, phương tiện thực hiện tội phạm, nên hòan trả cho bị cáo là đúng pháp luật. Nhưng cần tiếp tục quản lý 100.000 đồng để đảm bảo thi hành án theo đề nghị của Kiểm sát viên.

[4]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm là đúng quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14.

[5]. Đối với quan điểm của Kiểm sát viên đã xem xét đến các chứng cứ được đưa ra thẩm tra tại phiên tòa, đã đánh giá đúng hành vi, tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo. Về đề nghị mức hình phạt, Kiểm sát viên đã xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận một phần đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Đức T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
    1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017:

      Xử phạt bị cáo Lê Đức T 01 (một) năm tù.

      Thời hạn chấp hành hình phạt được tính kể từ ngày bị cáo Lê Đức T bị bắt tạm giữ là ngày 18/9/2024.

    2. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Lê Đức T.
  2. Về vật chứng:

    Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, tuyên:

    Tịch thu tiêu hủy Methamphetamine còn lại sau giám định trong 01 (một) phong bì niêm phong số 612 ngày 23/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh V.

    Hoàn trả bị cáo Lê Đức T 01(một) ví da màu đen; 01 (một) diện thoại di động hiệu Sansung màu xanh gắn sim số 0936432391, số IMEI 1:353930950694365, số IMEI 2:357022850694368, số seri sim: 8401231092008375; tiền Việt Nam 100.000 đồng. Hiện vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Hồ quản lý theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 05/11/2024.

    Giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Hồ tiếp tục quản lý của bị cáo Lê Đức T 100.000 đồng nêu trên để đảm bảo cho thi hành án.

  3. Về án phí hình sự sơ thẩm:

    Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án:

    Buộc bị cáo Lê Đức T nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

    Án xử công khai sơ thẩm. Tuyên án có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Vĩnh Long;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Long;
  • - Công an tỉnh Vĩnh Long;
  • - Sở tư pháp tỉnh Vĩnh Long;
  • - VKSND huyện Long Hồ;
  • - Công an huyện Long Hồ;
  • - Chi cục THADS huyện Long Hồ;
  • - UBND phường Tân Hội;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Huỳnh Văn Vĩnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2024/HS-ST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 74/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tuyên bị cáo phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy. xử phạt 01 năm tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger