|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA TỈNH LONG AN Bản án số: 74/2024/HS-ST Ngày 03-12-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Mạnh Quyết
Ông Trần Văn Nhị
Thư ký phiên tòa: Ông Cao Thái Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Thi - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 29 tháng 11 và ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 87/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Châu Thanh T (tên gọi khác: Không có) sinh ngày 25 tháng 3 năm 1973; Nơi cư trú: ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Châu Văn L (đã chết) và bà Huỳnh Thị C (đã chết); có vợ là Hồ Thị L1 và có 02 người con, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 1999; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị tạm giam lần 01 từ ngày 24/02/2024 đến ngày 31/5/2024 được thay thế bằng biện pháp Bảo lĩnh; Bị bắt tạm giam lần 02 từ ngày 11/9/2024 đến nay. (Bị cáo có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Nguyễn Thị Hồng T1, sinh năm 1978. Địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Long An. (Có mặt)
+ Bà Hồ Thị L1, sinh năm 1976. Địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Long An. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Châu Thanh T không có giấy phép kinh doanh trong lĩnh vực cho vay, cấp tín dụng, từ ngày 05/10/2023 đến 15/01/2024, T đã cho bà Nguyễn Thị Hồng T1 vay tổng cộng 102 lần, cụ thể như sau:
Từ lần thứ 01 đến lần thứ 04: Khoảng 17 giờ mỗi ngày từ 05/10/2023 đến 08/10/2023, T cho bà T1 vay số tiền 20.000.000đ, lãi suất mỗi ngày là 5% (lãi suất năm là 1825%, chênh lệch lãi suất 1805%, cao hơn 91,25 lần Bộ Luật dân sự); số tiền lãi là 1.000.000đ. Đến trưa mỗi ngày từ 06/10/2023 đến 09/10/2023, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc 20.000.000đ và tiền lãi là 1.000.000đ, số tiền lãi phải trả mỗi ngày theo Bộ Luật dân sự là 10.959đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 989.041₫.
Từ lần thứ 05 đến lần thứ 09: Khoảng 17 giờ mỗi ngày từ 09/10/2023 đến 13/10/2023, T cho bà T1 vay số tiền 30.000.000đ, lãi suất mỗi ngày là 5% (lãi suất năm là 1825%, chênh lệch lãi suất 1805%, cao hơn 91,25 lần Bộ Luật dân sự); số tiền lãi là 1.500.000đ. Đến trưa mỗi ngày từ 10/10/2023 đến 14/10/2023, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc là 30.000.000đ và tiền lãi là 1.500.000đ, số tiền lãi phải trả mỗi ngày theo Bộ Luật dân sự là 16.438đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 1.483.562d.
Từ lần thứ 10 đến lần thứ 14: Khoảng 17 giờ mỗi ngày từ 14/10/2023 đến 18/10/2023, T cho bà T1 vay tiền 50.000.000đ, lãi suất mỗi ngày là 5% (lãi suất năm là 1825%, chênh lệch lãi suất 1805%, cao hơn 91,25 lần Bộ Luật dân sự), số tiền lãi là 2.500.000đ. Đến trưa mỗi ngày từ 15/10/2023 đến 19/10/2023, bà T1 đến nhà T để trả tiền gồm: T2 gốc là 50.000.000đ và tiền lãi là 2.500.000đ, số tiền lãi phải trả mỗi ngày theo Bộ Luật dân sự là 27.397đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 2.472.603đ.
Từ lần thứ 15 đến lần thứ 21: Khoảng 17 giờ mỗi ngày từ 19/10/2023 đến 25/10/2023, T cho bà T1 vay số tiền 70.000.000đ, lãi suất mỗi ngày là 5% (lãi suất năm là 1825%, chênh lệch lãi suất 1805%, cao hơn 91,25 lần Bộ Luật dân sự), số tiền lãi là 3.500.000đ. Đến trưa mỗi ngày từ 20/10/2023 đến 26/10/2023, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc là 70.000.000₫ và tiền lãi là 3.500.000đ, số tiền lãi phải trả mỗi ngày theo Bộ Luật dân sự là 38.356đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 3.461.644đ.
Từ lần thứ 22 đến lần thứ 26: Khoảng 17 giờ mỗi ngày từ 26/10/2023 đến 30/10/2023, T cho bà T1 vay số tiền 120.000.000đ, lãi suất mỗi ngày là 5% (lãi suất năm là 1825%, chênh lệch lãi suất 1805%, cao hơn 91,25 lần Bộ Luật dân sự), số tiền lãi là 6.000.000đ. Đến trưa mỗi ngày từ 27/10/2023 đến 31/10/2023, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc là 120.000.000đ và tiền lãi là 6.000.000đ, số tiền lãi phải trả mỗi ngày theo Bộ Luật dân sự là 65.753đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 5.934.247đ.
Từ lần thứ 27 đến lần thứ 31: Khoảng 17 giờ mỗi ngày từ 31/10/2023 đến 04/11/2023, T cho bà T1 vay số tiền 200.000.000đ, lãi suất mỗi ngày là 5% (lãi suất năm là 1825%, chênh lệch lãi suất 1805%, cao hơn 91,25 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 10.000.000đ. Đến trưa mỗi ngày từ 01/11/2023 đến 05/11/2023, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc là 200.000.000đ và tiền lãi là 20.000.000đ, số tiền lãi phải trả mỗi ngày theo Bộ Luật dân sự là 109.589đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 9.890.411đ.
Từ lần thứ 32 đến lần thứ 36: Khoảng 17 giờ mỗi ngày từ 05/11/2023 đến 09/11/2023, T cho bà T1 vay số tiền 300.000.000đ, lãi suất mỗi ngày là 5% (lãi suất năm là 1825%, chênh lệch lãi suất 1805%, cao hơn 91,25 lần Bộ luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 15.000.000đ. Đến trưa mỗi ngày từ 06/11/2023 đến 10/11/2023, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc là 300.000.000₫ và tiền lãi là 15.000.000đ, số tiền lãi phải trả hằng ngày theo Bộ Luật dân sự là 164.383đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 14.835.617đ.
Từ lần thứ 37 đến lần thứ 43: Khoảng 17 giờ mỗi ngày từ 10/11/2023 đến 16/11/2023, T cho bà T1 vay số tiền 400.000.000đ, lãi suất mỗi ngày là 4% (lãi suất năm là 1460%, chênh lệch lãi suất là 1440%, cao hơn 73 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 16.000.000đ. Đến trưa mỗi ngày từ 11/11/2023 đến 17/11/2023, bà T1 đến nhà T để trả tiền gồm: T2 gốc là 400.000.000đ và tiền lãi là 16.000.000đ, số tiền lãi phải trả mỗi ngày theo Bộ Luật dân sự là 219.178đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 15.780.822đ.
Từ lần thứ 44 đến lần thứ 48: Khoảng 17 giờ mỗi ngày từ 17/11/2023 đến 21/11/2024, T cho bà T1 vay số tiền 500.000.000đ, lãi suất mỗi ngày là 4% (lãi suất năm là 1460%, chênh lệch lãi suất là 1440%, cao hơn 73 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 20.000.000đ. Đến trưa mỗi ngày từ 18/11/2023 đến 22/11/2023, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc là 500.000.000đ và tiền lãi là 20.000.000đ, số tiền lãi phải trả mỗi ngày theo Bộ luật dân sự là 273.972đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 19.726.028đ.
Từ lần thứ 49 đến lần thứ 53: Khoảng 17 giờ mỗi ngày từ 22/11/2023 đến 26/11/2023, T cho bà T1 vay số tiền 600.000.000đ, lãi suất mỗi ngày là 4% (lãi suất năm là 1460%, chênh lệch lãi suất là 1440%, cao hơn 73 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 24.000.000đ. Đến trưa mỗi ngày từ 23/11/2023 đến 27/11/2023, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc là 600.000.000đ và tiền lãi là 24.000.000đ, số tiền lãi phải trả mỗi ngày theo Bộ Luật dân sự là 328.767đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 23.671.233đ.
Từ lần thứ 54 đến lần thứ 58: Khoảng 17 giờ mỗi ngày từ 27/11/2023 đến 01/12/2023, T cho bà T1 vay số tiền 700.000.000đ, lãi suất mỗi ngày là 4% (lãi suất năm là 1460%, chênh lệch lãi suất là 1440%, cao hơn 73 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 28.000.000đ. Đến trưa mỗi ngày từ 28/11/2023 đến 02/12/2023, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc là 700.000.000₫ và tiền lãi là 28.000.000đ, số tiền lãi phải trả mỗi ngày theo Bộ Luật dân sự là 383.561đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 27.616.439đ.
Từ lần thứ 59 đến lần thứ 62: Khoảng 17 giờ mỗi ngày từ 02/12/2023 đến 05/12/2023, T cho bà T1 vay số tiền 1.000.000.000đ, lãi suất mỗi ngày là 4% (lãi suất năm là 1460%, chênh lệch lãi suất là 1440%, cao hơn 73 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 40.000.000đ. Đến trưa mỗi ngày từ 03/12/2023 đến 06/12/2023, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc là 1.000.000.000₫ và tiền lãi là 40.000.000đ, số tiền lãi phải trả mỗi ngày theo Bộ Luật dân sự là 547.945đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 39.452.055₫.
Lần thứ 63: Khoảng 17 giờ ngày 06/12/2023, T cho bà T1 vay số tiền 1.000.000.000đ, lãi suất mỗi ngày là 4% (lãi suất năm là 1460%, chênh lệch lãi suất là 1440%, cao hơn 73 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 40.000.000đ. Đến trưa ngày 07/12/2023, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc là 800.000.000₫ và tiền lãi là 40.000.000đ, bà T1 còn nợ 200.000.000đ, số tiền lãi phải trả theo Bộ Luật dân sự là 547.945đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của bộ Luật dân sự là 39.452.055₫.
Lần thứ 64: Khoảng 17 giờ ngày 07/12/2023, T cho bà T1 vay số tiền 1.200.000.000đ (trong đó: T đưa bà T1 1.000.000.000đ, cộng thêm vào số tiền nợ cũ là 200.000.000đ), lãi suất mỗi ngày là 4% (lãi suất năm là 1460%, chênh lệch lãi suất là 1440%, cao hơn 73 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 48.000.000đ. Đến trưa ngày 08/12/2023, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc 800.000.000₫ và số tiền lãi 48.000.000đ, bà T1 còn nợ 400.000.000đ, số tiền lãi phải trả theo Bộ Luật dân sự là 657.534đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 47.342.466₫.
Lần thứ 65: Khoảng 17 giờ ngày 08/12/2023, Tcho bà T1 vay số tiền 1.200.000.000₫, (trong đó: T đưa cho bà T1 800.000.000đ, cộng thêm vào số tiền nợ cũ là 400.000.000đ), lãi suất mỗi ngày là 4% (lãi suất năm là 1460%, chênh lệch lãi suất là 1440%, cao hơn 73 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 48.000.000đ. Đến trưa ngày 09/12/2023, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc 900.000.000₫ và số tiền lãi là 48.000.000đ, bà T1 còn nợ 300.000.000đ, số tiền lãi phải trả theo Bộ Luật dân sự là 657.534đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 47.342.466₫.
Lần thứ 66: Khoảng 17 giờ ngày 09/12/2023, T cho bà thu vay số tiền 1.200.000.000đ (trong đó: T đưa cho bà T1 900.000.000đ, cộng thêm vào số tiền nợ cũ là 300.000.000₫), lãi suất mỗi ngày là 4% (lãi suất năm là 1460%, chênh lệch lãi suất là 1440%, cao hơn 73 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 48.000.000đ. Đến trưa ngày 10/12/2023, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc 900.000.000₫ và số tiền lãi là 48.000.000đ, bà T1 còn nợ 300.000.000đ, số tiền lãi phải trả theo Bộ Luật dân sự là 657.534đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 47.342.466đ.
Lần thứ 67: Khoảng 17 giờ ngày 10/12/2023, T cho bà T1 vay số tiền 1.200.000.000đ (trong đó: T đưa cho bà T1 900.000.000đ, cộng thêm vào số tiền nợ cũ là 300.000.000₫), lãi suất mỗi ngày là 4% (lãi suất năm là 1460%, chênh lệch lãi suất là 1440%, cao hơn 73 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 48.000.000đ. Đến trưa ngày 11/12/2023, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc 950.000.000đ và số tiền lãi là 48.000.000đ, bà T1 còn nợ 250.000.000đ, số tiền lãi phải trả theo Bộ Luật dân sự là 657.534đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 47.342.466₫.
Lần thứ 68: Khoảng 17 giờ ngày 11/12/2023, T cho bà T1 vay số tiền 1.200.000.000₫, (trong đó: T đưa cho bà T1 950.000.000đ, cộng thêm vào số tiền nợ cũ là 250.000.000₫) lãi suất mỗi ngày là 4% (lãi suất năm là 1460%, chênh lệch lãi suất là 1440%, cao hơn 73 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 48.000.000đ. Đến trưa ngày 12/12/2023, bà T1 đến nhà T để trả tiền gồm: T2 gốc là 900.000.000₫ và tiền lãi là 48.000.000đ, bà T1 còn nợ 300.000.000đ, số tiền lãi phải trả theo Bộ luật dân sự là 657.534đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 47.342.466đ.
Lần thứ 69: Khoảng 17 giờ ngày 12/12/2023, T cho bà T1 vay số tiền 1.500.000.000đ (trong đó: T đưa cho bà T1 1.200.000.000đ, cộng vào số tiền nợ 300.000.000₫), lãi suất mỗi ngày là 4% (lãi suất năm là 1460%, chênh lệch lãi suất là 1440%, cao hơn 73 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 60.000.000đ. Đến trưa ngày 13/12/2023, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc là 900.000.000₫ và tiền lãi là 60.000.000đ, bà T1 còn nợ 600.000.000đ, số tiền lãi phải trả theo Bộ luật dân sự là 821.917đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của bộ luật dân sự là 59.178.083₫.
Lần thứ 70: Khoảng 17 giờ ngày 13/12/2023, T cho bà T1 vay số tiền 1.500.000.000₫, (trong đó: T đưa cho bà T1 900.000.000đ, cộng vào số tiền bà T1 còn nợ là 600.000.000₫), lãi suất mỗi ngày là 4% (lãi suất năm là 1460%, chênh lệch lãi suất là 1440%, cao hơn 73 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 60.000.000đ. Đến trưa ngày 14/12/2023, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc là 800.000.000đ và tiền lãi là 60.000.000đ, bà T1 còn nợ 700.000.000đ, số tiền lãi phải trả theo Bộ Luật dân sự là 821.917đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 59.178.083đ.
Lần thứ 71: Khoảng 17 giờ ngày 14/12/2023, Tcho bà T1 vay số tiền 1.500.000.000đ (trong đó: T đưa cho bà T1 800.000.000đ, cộng vào số tiền bà T1 còn nợ là 700.000.000₫), lãi suất mỗi ngày là 4% (lãi suất năm là 1460%, chênh lệch lãi suất là 1440%, cao hơn 73 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 60.000.000đ. Đến trưa ngày 15/12/2023, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc là 900.000.000đ và tiền lãi là 60.000.000đ, bà T1 còn nợ 600.000.000đ, số tiền lãi phải trả theo Bộ Luật dân sự là 821.917đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của bộ luật dân sự là 59.178.083₫.
Lần thứ 72: Khoảng 17 giờ ngày 15/12/2023, T cho bà T1 vay số tiền 1.500.000.000đ (trong đó: T đưa cho bà T1 900.000.000đ, cộng vào số tiền bà T1 còn nợ là 600.000.000₫), lãi suất mỗi ngày là 4% (lãi suất năm là 1460%, chênh lệch lãi suất là 1440%, cao hơn 73 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 60.000.000đ. Đến trưa ngày 16/12/2023, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc là 950.000.000đ và tiền lãi là 60.000.000đ, bà T1 còn nợ 550.000.000đ, số tiền lãi phải trả theo Bộ Luật dân sự là 821.917đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 59.178.083₫.
Lần thứ 73: Khoảng 17 giờ ngày 16/12/2023, T cho bà T1 vay số tiền 1.500.000.000₫, (trong đó: T đưa cho bà T1 950.000.000đ, cộng vào số tiền bà T1 còn nợ là 550.000.000₫), lãi suất mỗi ngày là 4% (lãi suất năm là 1460%, chênh lệch lãi suất là 1440%, cao hơn 73 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 60.000.000đ. Đến trưa ngày 17/12/2023, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc là 900.000.000đ và tiền lãi là 60.000.000đ, bà T1 còn nợ 600.000.000đ, số tiền lãi phải trả theo Bộ Luật dân sự là 821.917đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của bộ luật dân sự là 59.178.083₫.
Lần thứ 74: Khoảng 17 giờ ngày 17/12/2023, T cho bà T1 vay số tiền 1.900.000.000đ (trong đó: T đưa cho bà T1 1.300.000.000đ, cộng vào số tiền bà T1 còn nợ là 600.000.000₫), lãi suất mỗi ngày là 4% (lãi suất năm là 1460%, chênh lệch lãi suất là 1440%, cao hơn 73 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 76.000.000đ. Đến trưa ngày 18/12/2023, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc là 900.000.000đ và tiền lãi là 76.000.000đ, bà T1 còn nợ 1.000.000.000đ, số tiền lãi phải trả theo Bộ Luật dân sự là 1.041.096đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 74.958.904₫.
Lần thứ 75: Khoảng 17 giờ ngày 18/12/2023, T cho bà T1 vay số tiền 1.900.000.000đ (trong đó: T đưa cho bà T1 900.000.000đ, cộng vào số tiền bà T1 còn nợ là 1.000.000.000₫), lãi suất mỗi ngày là 4% (lãi suất năm là 1460%, chênh lệch lãi suất là 1440%, cao hơn 73 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 76.000.000đ. Đến trưa ngày 19/12/2023, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc là 950.000.000đ và tiền lãi là 76.000.000đ, bà T1 còn nợ 950.000.000đ, số tiền lãi phải trả theo Bộ Luật dân sự là 1.041.096đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 74.958.904₫.
Lần thứ 76: Khoảng 17 giờ ngày 19/12/2023, T cho bà T1 vay số tiền 2.200.000.000đ (trong đó: T đưa cho bà T1 1.250.000.000đ, cộng vào số tiền bà T1 còn nợ là 950.000.000₫), lãi suất mỗi ngày là 4% (lãi suất năm là 1460%, chênh lệch lãi suất là 1440%, cao hơn 73 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 88.000.000đ, đến trưa ngày 20/12/2023, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc là 900.000.000đ và tiền lãi là 88.000.000đ, bà T1 còn nợ 1.300.000.000đ, số tiền lãi phải trả theo Bộ Luật dân sự là 1.205.479đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 86.794.521đ.
Lần thứ 77: Khoảng 17 giờ ngày 20/12/2023, T cho bà T1 vay số tiền 2.200.000.000đ (trong đó: T đưa cho bà T1 900.000.000đ, cộng vào số tiền bà T1 còn nợ là 1.300.000.000₫), lãi suất mỗi ngày là 4% (lãi suất năm là 1460%, chênh lệch lãi suất là 1440%, cao hơn 73 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 88.000.000đ. Đến trưa ngày 21/12/2023, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc là 900.000.000đ và tiền lãi là 88.000.000đ, bà T1 còn nợ bị cáo T 1.300.000.000đ, số tiền lãi phải trả theo Bộ luật dân sự là 1.205.479đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 86.794.521đ.
Lần thứ 78: Khoảng 17 giờ ngày 21/12/2023, T cho bà T1 vay số tiền 2.500.000.000đ (trong đó: T đưa cho bà T1 1.200.000.000đ cộng vào số tiền bà T1 còn nợ là 1.300.000.000₫), lãi suất mỗi ngày là 4% (lãi suất năm là 1460%, chênh lệch lãi suất là 1440%, cao hơn 73 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 100.000.000đ. Đến trưa ngày 22/12/2023, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc là 800.000.000đ và tiền lãi là 100.000.000đ, bà T1 còn nợ 1.700.000.000đ. Số tiền sử dụng cho vay là 2.500.000.000đ, số tiền lãi phải trả theo Bộ Luật dân sự là 1.369.863đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 98.630.137₫.
Lần thứ 79: Khoảng 17 giờ ngày 22/12/2023, T cho bà T1 vay số tiền 2.500.000. (trong đó: T đưa cho bà T1 800.000.000đ, cộng vào số tiền bà T1 còn nợ là 1.700.000.000đ), lãi suất mỗi ngày là 4% (lãi suất năm là 1460%, chênh lệch lãi suất là 1440%, cao hơn 73 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 100.000.000đ, đến trưa ngày 23/12/2023, bà T1 đến nhà T để trả tiền gồm: T2 gốc là 900.000.000₫ và tiền lãi là 100.000.000đ, bà T1 còn nợ T 1.600.000.000đ, số tiền lãi phải trả theo Bộ Luật dân sự là 1.369.863đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 98.630.137₫.
Lần thứ 80: Khoảng 17 giờ ngày 23/12/2023, T cho bà T1 vay số tiền 2.800.000.000đ (trong đó: T đưa cho bà T1 1.200.000.000đ, cộng vào số tiền bà T1 còn nợ là 1.600.000.000₫), lãi suất mỗi ngày là 4% (lãi suất năm là 1460%, chênh lệch lãi suất là 1440%, cao hơn 73 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 112.000.000đ. Đến trưa ngày 24/12/2023, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc là 950.000.000đ và tiền lãi là 112.000.000đ, bà T1 còn nợ 1.850.000.000đ, số tiền lãi phải trả theo Bộ luật dân sự là 1.534.246đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 110.465.754₫.
Lần thứ 81: Khoảng 17 giờ ngày 24/12/2023, Tcho bà T1 vay số tiền 2.800.000.000đ (trong đó: T đưa cho bà T1 950.000.000đ, cộng vào số tiền bà T1 còn nợ là 1.850.000.000đ), lãi suất mỗi ngày là 4% (lãi suất năm là 1460%, chênh lệch lãi suất là 1440%, cao hơn 73 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 112.000.000đ. Đến trưa 25/12/2023, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc là 900.000.000đ và tiền lãi là 112.000.000đ, bà T1 còn nợ 1.900.000.000đ, số tiền lãi phải trả theo Bộ Luật dân sự là 1.534.246đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của bộ luật dân sự là 110.465.754đ.
Lần thứ 82: Khoảng 17 giờ ngày 25/12/2023, T cho bà T1 vay số tiền 3.000.000.000₫, (trong đó: T đưa cho bà T1 1.100.000.000đ cộng vào số tiền bà T1 còn nợ là 1.900.000.000₫), lãi suất mỗi ngày là 4% (lãi suất năm là 1460%, chênh lệch lãi suất là 1440%, cao hơn 73 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 120.000.000đ. Đến trưa 26/12/2023, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc là 900.000.000đ và tiền lãi là 120.000.000đ, bà T1 còn nợ 2.100.000.000đ, số tiền lãi phải trả theo Bộ Luật dân sự là 1.643.835đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 118.356.165₫.
Lần thứ 83: Khoảng 17 giờ ngày 26/12/2023, T cho bà T1 vay số tiền 3.000.000.000₫ (trong đó: T đưa cho bà T1 900.000.000đ, cộng vào số tiền bà T1 còn nợ là 2.100.000.000₫), lãi suất mỗi ngày là 4% (lãi suất năm là 1460%, chênh lệch lãi suất là 1440%, cao hơn 73 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 120.000.000đ. Đến trưa ngày 27/12/2023, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc là 800.000.000đ và tiền lãi là 120.000.000đ, bà T1 còn nợ 2.200.000.000đ, số tiền lãi phải trả theo Bộ Luật dân sự là 1.643.835đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 118.356.165₫.
Lần thứ 84: Khoảng 17 giờ ngày 27/12/2023, Tcho bà T1 vay số tiền 3.000.000.000đ (trong đó: T đưa cho bà T1 800.000.000đ, cộng vào số tiền bà T1 còn nợ là 2.200.000.000₫), lãi suất mỗi ngày là 4% (lãi suất năm là 1460%, chênh lệch lãi suất là 1440%, cao hơn 73 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 120.000.000đ. Đến trưa ngày 28/12/2023, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc là 900.000.000đ và tiền lãi là 120.000.000đ, bà T1 còn nợ 2.100.000.000đ, số tiền lãi phải trả theo Bộ Luật dân sự là 1.643.835đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 118.356.165₫.
Lần thứ 85: Khoảng 17 giờ ngày 28/12/2023, T cho bà T1 vay số tiền là 3.300.000.000đ (trong đó: T đưa cho bà T1 1.200.000.000đ, cộng vào số tiền bà T1 còn nợ là 2.100.000.000₫), lãi suất mỗi ngày là 4% (lãi suất năm là 1460%, chênh lệch lãi suất là 1440%, cao hơn 73 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi ngày là 132.000.000đ. Đến trưa ngày 29/12/2024, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc là 950.000.000đ và tiền lãi là 132.000.000đ, bà T1 còn nợ 2.350.000.000đ, số tiền lãi phải trả theo Bộ Luật dân sự là 1.808.219đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 130.191.781đ.
Lần thứ 86: Khoảng 17 giờ ngày 29/12/2023, T cho bà T1 vay số tiền là 3.300.000.000₫ (trong đó: T đưa cho bà T1 950.000.000đ, cộng vào số tiền bà T1 còn nợ là 2.350.000.000đ), lãi suất mỗi ngày là 4% (lãi suất năm là 1460%, chênh lệch lãi suất là 1440%, cao hơn 73 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 132.000.000đ. Đến trưa ngày 30/12/2023, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc là 900.000.000đ và tiền lãi là 132.000.000đ, bà T1 còn nợ 2.400.000.000đ, số tiền lãi phải trả theo Bộ Luật dân sự là 1.808.219đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 130.191.781đ.
Lần thứ 87: Khoảng 17 giờ ngày 30/12/2023, T cho bà T1 vay số tiền là 3.300.000.000₫ (trong đó: T đưa cho bà T1 900.000.000đ, cộng vào số tiền bà T1 còn nợ là 2.400.000.000₫), lãi suất mỗi ngày là 4% (lãi suất năm là 1460%, chênh lệch lãi suất là 1440%, cao hơn 73 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 132.000.000đ. Đến trưa ngày 31/12/2023, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc là 900.000.000đ và tiền lãi là 132.000.000đ, bà T1 còn nợ 2.400.000.000đ, số tiền lãi phải trả theo Bộ Luật dân sự là 1.808.219đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 130.191.781đ.
Lần thứ 88: Khoảng 17 giờ ngày 31/12/2023, T cho bà T1 vay số tiền 3.600.000.000đ (trong đó: T đưa cho bà T1 1.200.000.000đ, cộng vào số tiền bà T1 còn nợ là 2.400.000.000₫), lãi suất mỗi ngày là 4% (lãi suất năm là 1460%, chênh lệch lãi suất là 1440%, cao hơn 73 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 144.000.000đ. Đến trưa ngày 01/01/2024, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc là 900.000.000đ và tiền lãi là 144.000.000đ, bà T1 còn nợ bị cáo T 2.700.000.000đ, số tiền lãi phải trả theo Bộ Luật dân sự là 1.972.602đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 142.027.398đ.
Lần thứ 89: Khoảng 17 giờ 01/01/2024, T cho bà T1 vay số tiền 3.600.000.000đ (trong đó: T đưa cho bà T1 900.000.000đ, cộng vào số tiền bà T1 còn nợ là 2.700.000.000₫), lãi suất mỗi ngày là 4% (lãi suất năm là 1460%, chênh lệch lãi suất là 1440%, cao hơn 73 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 144.000.000đ. Đến trưa ngày 02/01/2024, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc là 800.000.000đ và tiền lãi là 144.000.000đ, bà T1 còn nợ 2.800.000.000đ, số tiền lãi phải trả theo Bộ Luật dân sự là 1.972.602đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 142.027.398đ.
Lần thứ 90: Khoảng 17 giờ ngày 02/01/2024, T cho bà T1 vay số tiền 3.800.000.000đ (trong đó: T đưa cho bà T1 1.000.000.000đ, cộng vào số tiền bà T1 còn nợ là 2.800.000.000₫), lãi suất mỗi ngày là 3% (lãi suất năm là 1095%, chênh lệch lãi suất là 1075%, cao hơn 54,75 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 114.000.000đ. Đến trưa ngày 03/01/2024, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc là 900.000.000đ và tiền lãi là 114.000.000đ, bà T1 còn nợ 2.900.000.000đ, số tiền lãi phải trả theo Bộ Luật dân sự là 2.082.191đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 111.917.809₫.
Lần thứ 91: Khoảng 17 giờ ngày 03/01/2024, T cho bà số tiền 3.800.000.000₫ (trong đó: T đưa cho bà T1 900.000.000đ, cộng vào số tiền bà T1 còn nợ là 2.900.000.000₫), lãi suất mỗi ngày là 3% (lãi suất năm là 1095%, chênh lệch lãi suất là 1075%, cao hơn 54,75 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 114.000.000đ. Đến trưa ngày 04/01/2024, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc là 800.000.000đ và tiền lãi là 114.000.000đ, bà T1 còn nợ 3.000.000.000đ, số tiền lãi phải trả theo Bộ Luật dân sự là 2.082.191đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 111.917.809₫.
Lần thứ 92: Khoảng 17 giờ ngày 04/01/2024, T cho bà T1 vay số tiền 3.800.000.000đ (trong đó: T đưa cho bà T1 800.000.000đ, cộng vào số tiền bà T1 còn nợ là 3.000.000.000₫), lãi suất mỗi ngày là 3% (lãi suất năm là 1095%, chênh lệch lãi suất là 1075%, cao hơn 54,75 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 114.000.000đ. Đến trưa ngày 05/01/2024, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc là 900.000.000đ và tiền lãi là 114.000.000đ, bà T1 còn nợ 2.900.000.000đ, số tiền lãi phải trả theo Bộ luật dân sự là 2.082.191đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của bộ luật dân sự là 111.917.809₫.
Lần thứ 93: Khoảng 17 giờ ngày 05/01/2024, T cho bà T1 vay số tiền 4.100.000.000đ (trong đó: T đưa cho bà T1 1.200.000.000đ, cộng vào số tiền bà T1 còn nợ là 2.900.000.000₫), lãi suất mỗi ngày là 3% (lãi suất năm là 1095%, chênh lệch lãi suất là 1075%, cao hơn 54,75 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 123.000.000đ. Đến trưa ngày 06/01/2024, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc là 800.000.000đ và tiền lãi là 123.000.000đ, bà T1 còn nợ 3.300.000.000đ, số tiền lãi phải trả theo Bộ Luật dân sự là 2.246.575đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 120.753.425đ.
Lần thứ 94 : Khoảng 17 giờ ngày 06/01/2024, T cho bà T1 vay số tiền 4.100.000.000đ (trong đó: T đưa cho bà T1 800.000.000đ, cộng vào số tiền bà T1 còn nợ là 3.300.000.000₫), lãi suất mỗi ngày là 3% (lãi suất năm là 1095%, chênh lệch lãi suất là 1075%, cao hơn 54,75 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 123.000.000đ. Đến trưa ngày 07/01/2024, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc là 900.000.000đ và tiền lãi là 123.000.000đ, bà T1 còn nợ 3.200.000.000đ, số tiền lãi phải trả theo Bộ Luật dân sự là 2.246.575đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 120.753.425đ.
Lần thứ 95: Khoảng 17 giờ ngày 07/01/2024, Tcho bà T1 vay số tiền 4.400.000.000đ (trong đó: T đưa cho bà T1 1.200.000.000đ, cộng vào số tiền bà T1 còn nợ là 3.200.000.000₫), lãi suất mỗi ngày là 3% (lãi suất năm là 1095%, chênh lệch lãi suất là 1075%, cao hơn 54,75 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 132.000.000đ. Đến trưa ngày 08/01/2024, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc là 900.000.000đ và tiền lãi là 132.000.000đ, bà T1 còn nợ 3.500.000.000đ, số tiền lãi phải trả theo Bộ Luật dân sự là 2.410.959đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 129.589.041đ.
Lần thứ 96: Khoảng 17 giờ ngày 08/01/2024, Tcho bà T1 vay số tiền 4.400.000.000₫ (trong đó: T đưa cho bà T1 900.000.000đ, cộng vào số tiền bà T1 còn nợ là 3.500.000.000₫), lãi suất mỗi ngày là 3% (lãi suất năm là 1095%, chênh lệch lãi suất là 1075%, cao hơn 54,75 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 132.000.000đ. Đến trưa ngày 09/01/2024, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc là 800.000.000đ và tiền lãi là 132.000.000đ, bà T1 còn nợ 3.600.000.000đ, số tiền lãi phải trả theo Bộ Luật dân sự là 2.410.959đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 129.589.041đ.
Lần thứ 97: Khoảng 17 giờ ngày 09/01/2024, T cho bà T1 vay số tiền 4.800.000.000đ (trong đó: T đưa cho bà T1 1.200.000.000đ, cộng vào số tiền nợ là 3.600.000.000₫), lãi suất mỗi ngày là 3% (lãi suất năm là 1095%, chênh lệch lãi suất là 1075%, cao hơn 54,75 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 144.000.000đ. Đến trưa ngày 10/01/2024, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc là 900.000.000đ và tiền lãi là 144.000.000đ, bà T1 còn nợ 3.900.000.000đ, số tiền lãi phải trả theo Bộ Luật dân sự là 2.630.137đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 141.369.863đ.
Lần thứ 98: Khoảng 17 giờ ngày 10/01/2024, T cho bà T1 vay số tiền 4.800.000.000₫ (trong đó: T đưa cho bà T1 900.000.000đ, cộng vào số tiền nợ là 3.900.000.000₫), lãi suất mỗi ngày là 3% (lãi suất năm là 1095%, chênh lệch lãi suất là 1075%, cao hơn 54,75 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 144.000.000đ. Đến trưa ngày 11/01/2024, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc là 800.000.000đ và tiền lãi là 144.000.000đ, bà T1 còn nợ 4.000.000.000đ, số tiền lãi phải trả theo Bộ Luật dân sự là 2.630.137đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 141.369.863đ.
Lần thứ 99: Khoảng 17 giờ ngày 11/01/2024, T cho bà T1 vay số tiền 4.800.000.000đ (trong đó: T đưa cho bà T1 800.000.000đ, cộng vào số tiền nợ là 4.000.000.000₫), lãi suất mỗi ngày là 3% (lãi suất năm là 1095%, chênh lệch lãi suất là 1075%, cao hơn 54,75 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 144.000.000đ. Đến trưa ngày 12/01/2024, bà T1 đến nhà T để trả số tiền gồm: Tiền gốc là 900.000.000đ và tiền lãi là 144.000.000đ, bà T1 còn nợ 3.900.000.000đ, số tiền lãi phải trả theo Bộ Luật dân sự là 2.630.137đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 141.369.863đ.
Lần thứ 100: Khoảng 17 giờ ngày 12/01/2024, T cho bà T1 vay số tiền 5.100.000.000₫ (trong đó: T đưa cho bà T1 1.200.000.000đ, cộng vào số tiền nợ là 3.900.000.000₫), lãi suất mỗi ngày là 2% (lãi suất năm là 730%, chênh lệch lãi suất là 710%, cao hơn 36,5 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 102.000.000đ. Đến trưa ngày 13/01/2024, bà T1 đến nhà T để trả tiền gồm: Tiền lãi là 102.000.000đ và tiền gốc là 900.000.000đ, bà T1 còn nợ 4.200.000.000đ, số tiền lãi phải trả theo Bộ Luật dân sự là 2.794.521đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 99.205.479₫.
Lần thứ 101: Khoảng 17 giờ ngày 13/01/2024, T cho bà T1 vay số tiền 5.400.000.000đ (trong đó: T đưa cho bà T1 1.200.000.000đ, cộng vào số tiền nợ là 4.200.000.000₫), lãi suất mỗi ngày là 2% (lãi suất năm là 730%, chênh lệch lãi suất là 710%, cao hơn 36,5 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 108.000.000đ. Đến trưa ngày 14/01/2024, bà T1 đưa cho T tiền lãi là 108.000.000đ, không trả tiền gốc đã vay, số tiền lãi phải trả theo Bộ Luật dân sự là 2.958.904đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 105.041.096đ.
Lần thứ 102: Khoảng 17h ngày 14/01/2024, T cho bà T1 vay số tiền 5.700.000.000đ (trong đó: T đưa cho bà T1 300.000.000đ, cộng vào số tiền bà T1 còn nợ là 5.400.000.000₫), lãi suất mỗi ngày là 2% (lãi suất năm là 730%, chênh lệch lãi suất là 710%, cao hơn 36,5 lần Bộ Luật dân sự), tiền lãi mỗi ngày là 114.000.000đ. Đến trưa ngày 15/01/2024, bà T1 không còn khả năng trả tiền lãi và tiền gốc cho T, số tiền lãi phải trả theo Bộ Luật dân sự là 3.123.288đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự là 110.876.712đ
Ngày 15/01/2024, bà T1 không còn khả năng trả tiền thiếu cho T là 5.700.000.000đ. Trước đây, T cho bà T1 mượn số tiền 500.000.000đ, nên T và bà T1 viết giấy nợ là 6.200.000.000đ.
Tổng cộng: Châu Thanh T đã cho bà Nguyễn Thị Hồng T1 vay 102 lần với số tiền thấp nhất là 20.000.000đ, cao nhất là 5.700.000.000đ. Tùy theo số tiền vay có lãi suất cao nhất là 05%/ngày, thấp nhất là 02%/ngày. Tổng số tiền T cho bà T1 vay 102 lần là 138.270.000.000đ, lãi suất 4.819.500.000đ, trong đó số tiền phải trả theo quy định của Bộ Luật dân sự là 75.764.353đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự 4.743.735.647đ.
Tổng số tiền T thực giao cho bà T1 là 59.020.000.000đ. Bà T1 đã trả tiền vay cho T là 53.320.000.000đ, số tiền vay gốc còn nợ T là 5.700.000.000đ. Số tiền lãi T thực nhận từ bà T1 là 4.705.500.000đ, trong đó số tiền phải trả theo quy định của Bộ Luật dân sự là 72.641.065đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự 4.632.858.935₫.
Vật chứng thu giữ gồm: Cơ quan điều tra Công an huyện T có thu giữ tài liệu, tang vật liên quan đến vụ án gồm:
Một điện thoại di động S, số Imei: 356416111724801, màu đen, đã qua sử dụng, hiện cơ quan Chi cục Thi hành án huyện Thủ Thừa đang quản lý.
Một giấy đưa nhận tiền đổi vé số trúng thưởng, chữ viết của Châu Thanh T với người đưa tiền là Châu Thanh T, người nhận tiền Nguyễn Thị Hồng T1.
Một tờ giấy chữ viết của Châu Thanh T ghi: Châu Thanh T có đưa cho chị T1 số tiền, lãi.
Một quyển tập học sinh bên trong có ghi giấy đưa nhận tiền, người nhận tiền Nguyễn Thị Hồng T1, người đưa tiền Châu Thanh T, chữ viết của Châu Thanh T.
Một tờ Giấy mượn tiền ngày 08/01/2024 (số tiền mượn 800.000.000₫).
Một tờ Giấy tay ghi ngày 26/8/2023 (số tiền 140.000.000₫).
Một tờ Giấy vay mượn tiền ngày 12/8/2023 (số tiền 60.000.000₫).
Một giấy vay mượn tiền ngày 10/3/2023, người vay Võ Thị Huyền T3, người cho vay Châu Thanh T.
Một giấy vay mượn tiền ngày 13/8/2023, người vay Nguyễn Thị Như H.
Một giấy vay mượn tiền ngày 06/4/2023, người vay Trần Thị T4, người cho vay mượn tiền Châu Thanh T.
Một giấy vay mượn tiền ngày 13/01/2024, người vay mượn tiền Đỗ Thị Tuyết N, người cho vay Châu Thanh T.
Một quyển tập học sinh bên trong có ghi giấy mượn tiền ngày 21/11/2019, người mượn Ngô Thị Ngọc B.
Một quyển tập học sinh, bên trong có ghi giấy mượn tiền ngày 22/8/2022, người vay Võ Thị Huyền T3, người cho vay Châu Thanh T; giấy vay mượn tiền ngày 07/6/2022, người vay Võ Thị Huyền T3, người cho vay Châu Thanh T; giấy vay mượn tiền ngày 17/5/2022 người vay Võ Thị Huyền T3 người cho vay Hồ Thị L1; giấy vay mượn tiền ngày 06/5/2022 người vay Võ Thị Huyền T3 người cho vay Hồ Thị L1; giấy vay mượn tiền ngày 16/02/2022, ngày 28/4/2022 người vay Đỗ Thị Tuyết N, người cho vay 6 L1; giấy vay mượn tiền ngày 28/3/2022 người vay Trương Thị Ngọc M, người cho vay Châu Thanh T; giấy mượn tiền ngày 08/6/2022 người vay tiền Đỗ Thị Tuyết N, người cho vay vợ chồng Châu Thanh T; giấy ghi cho mượn tiền năm 2022.
Tại Bản cáo trạng số Cáo trạng số 39/CT-VKS ngày 13/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa đã truy tố Châu Thanh T về “Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo khoản 2 Điều 201 Bộ Luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố Châu Thanh T về “Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Trong phần luận tội, Kiểm sát viên đã phân tích đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Bị cáo thuộc trường hợp phạm tội lần đầu ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có bà nội là Nguyễn Thị T5 được Nhà nước phong tặng danh hiệu Mẹ Việt Nam anh hùng, mẹ ruột là bà Huỳnh Thị C được tặng huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, có bác ruột là ông Châu Văn B1 và chú ruột ông Châu Văn Đ là liệt sĩ; Bị cáo tác động gia đình nộp lại 5.000.000đ tiền thu lợi từ hoạt động cho vay, đã tham gia nghĩa vụ quân sự và xuất ngũ năm 1995. Bị cáo bị có tình tiết tăng nặng điểm g khoản 1 Điều 52 Phạm tội 02 lần trở lên của Bộ luật hình sự; áp dụng Điều 38, Điều 50 của Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Châu Thanh T từ 06 (sáu) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù.
Về biện pháp tư pháp:
Buộc bị cáo Châu Thanh T phải nộp ngân sách Nhà nước khoản tiền bị cáo T đã cho bà T1 vay là 138.270.000.000₫ - 5.700.000.000₫ bà T1 chưa trả = 132.570.000.000đ để sung công quỹ Nhà nước và số tiền lãi trong mức quy định theo Bộ luật dân sự sung công quỹ Nhà nước là 75.764.353₫.
Số tiền thu lợi bất chính từ việc thu lãi suất vượt mức quy định (trên 20%/năm) tổng cộng là 4.632.858.935đ, bà T1 không yêu cầu bị cáo hoàn trả nên ghi nhận.
Buộc bà Nguyễn Thị Hồng T1 phải nộp lại số tiền gốc vay 5.700.000.000₫ chưa trả cho bị cáo Châu Thanh T để tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: Một điện thoại di động Samsung G, số Imei: 356416111724801, màu đen, đã qua sử dụng, hiện cơ quan Chi cục Thi hành án huyện Thủ Thừa đang quản lý.
Tịch thu, lưu trữ trong hồ sơ vụ án vật chứng là các giấy vay có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Châu Thanh T. Các giấy vay và tài liệu khác không liên quan thì hoàn trả lại cho bị cáo.
Đối với việc bị cáo T cho những người khác vay tiền lấy lãi theo quy định của pháp luật nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không đề cập xử lý là có căn cứ.
Đối với bà Hồ Thị L1 là vợ của bị cáo Châu Thanh T tuy biết việc bị cáo T cho bà T1 vay tiền lấy lãi nhưng không biết cụ thể số tiền vay, lãi suất; Châu Xuân C1, Châu Hoàng Đ1 là con của bị cáo T không biết bị cáo T cho bà T1 vay tiền nên không đủ cơ sở xử lý đối với Hồ Thị L1, Châu Xuân C1, Châu Hoàng Đ1.
Đối với số tiền 1.360.000.000₫ bà Nguyễn Thị Hồng T1 khai bị cáo Châu Thanh T cho vay và lấy lãi suất cao nhưng bị cáo T không thừa nhận và không có cơ sở chứng minh nên không đủ cơ sở xem xét.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng số 39/CT-VKS ngày 13/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa. Bị cáo nói lời sau cùng là do bị cáo thiếu hiểu biết về quy định của pháp luật nên đã phạm tội. Bị cáo đã ăn năn về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm về chăm lo gia đình do vợ bị cáo bị bệnh tim và cao huyết áp, mỗi tháng đều đi khám ở thành phố Hồ Chí Minh nhiều lần trong khi các con đi làm ăn xa nhà. Bị cáo hứa từ nay không tái phạm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa, Kiểm sát Viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về hành vi phạm tội:
Tại phiên tòa, bị cáo Châu Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản Cáo trạng số 39/CT-VKS ngày 13/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản đối chất, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận:
Từ ngày 05/10/2023 đến ngày 15/01/2024, bị cáo đã cho bà Nguyễn Thị Hồng T1 vay 102 lần (mục đích vay đổi vé số trúng thưởng, trả nợ nhiều người) số tiền thấp nhất là 20.000.000đ, cao nhất là 5.700.000.000đ. Tùy theo số tiền vay có lãi suất cao nhất là 05%/ngày, thấp nhất là 02%/ngày. Tổng số tiền 102 lần cho vay là 138.270.000.000đ, lãi suất 4.819.500.000đ, trong đó số tiền phải trả theo quy định của Bộ Luật dân sự là 75.764.353đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự 4.743.735.647đ. Bà T1 còn nợ bị cáo T là 5.700.000.000đ tiền gốc vay.
Số tiền lãi bị cáo T thực nhận từ bà T1 4.705.500.000đ, trong đó số tiền phải trả theo quy định của Bộ Luật dân sự là 72.641.065đ, số tiền lãi vượt quá mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ Luật dân sự 4.632.858.935đ.
[2.2] Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Bị cáo Châu Thanh T là công dân có đầy đủ sức khỏe và năng lực trách nhiệm hình sự. Vì mục đích tư lợi cá nhân nên bị cáo đã thực hiện hành vi cho vay lãi nặng đối với bà Nguyễn Thị Hồng T1. Hành vi trái pháp luật của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là trật tự quản lý trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo Châu Thanh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” được quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự nên cần xử lý nghiêm minh, nhằm răn đe giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[2.3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Châu Thanh T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo Châu Thanh T phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt. Bị cáo có bà nội là Nguyễn Thị T5 được Nhà nước phong tặng danh hiệu Mẹ Việt Nam anh hùng, mẹ ruột là bà Huỳnh Thị C được tặng huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, có bác ruột là ông Châu Văn B1 được tặng huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhì (Liệt sĩ) và chú ruột ông Châu Văn Đ là liệt sĩ; Bị cáo đã tác động gia đình nộp lại 5.000.000đ tiền thu lợi bất chính, đã tham gia nghĩa vụ quân sự và xuất ngũ năm 1995; nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo bị có tình tiết tăng nặng điểm g khoản 1 Điều 52 “Phạm tội 02 lần trở lên” của Bộ luật hình sự.
[2.4] Về hình phạt: Bị cáo Châu Thanh T có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt. Ngoài ra, bị cáo T cho nhiều người vay nhưng chỉ duy nhất cho bà T1 vay lãi nặng. Bà T1 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do bà T1 vay tiền để trả nợ cho nhiều người, trong quá trình vay tiền và khi mất khả năng chi trả thì bị cáo T không có hành vi mắng chửi, đe dọa hay gây khó dễ gì đối với bà T1. Bị cáo T không thuộc trường hợp phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, hoạt động dưới hình thức băng, nhóm. Nhằm thể hiện chính sách đãi ngộ của Nhà nước đối với gia đình người có công với cách mạng, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận áp dụng mức hình phạt trong khung đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, để bị cáo sớm hòa nhập cộng đồng, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
[2.5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy Bị cáo T bị áp dụng hình phạt tù là nghiêm khắc, đã đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[3] Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự. Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 hướng dẫn về việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự:
[3.1] Đối với tổng số tiền bị cáo cho vay 138.270.000.000đ dùng để thực hiện hành vi phạm tội. Trong đó, bà T1 chưa trả là 5.700.000.000đ, nên buộc bị cáo phải nộp lại 132.570.000.000đ; Buộc bà Nguyễn Thị Hồng T1 phải nộp lại 5.700.000.000đ để sung ngân sách Nhà nước.
[3.2] Đối với số tiền lãi 75.764.353đ tính theo mức lãi suất 20%/năm theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự là số tiền bị cáo thu được khi thực hiện hành vi phạm tội nên cần buộc bị cáo nộp lại để sung ngân sách Nhà nước.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 5.000.000₫ đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa theo biên lai thu số 0004041 ngày 02/12/2024 để đảm bảo thi hành án.
[3.3] Đối với số tiền thu lợi bất chính vượt mức lãi suất cao nhất 20%/năm theo quy định là 4.632.858.935đ bà T1 không yêu cầu bị cáo Châu Thanh T trả cho bà nên ghi nhận.
[4] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước Một điện thoại di động Samsung Galaxy All, số Imei: 356416111724801, màu đen, đã qua sử dụng, hiện cơ quan Chi cục Thi hành án huyện Thủ Thừa đang quản lý.
Tịch thu, lưu trữ trong hồ sơ vụ án các vật chứng sau:
Một giấy đưa nhận tiền đổi vé số trúng thưởng, chữ viết của Châu Thanh T với người đưa tiền là Châu Thanh T, người nhận tiền Nguyễn Thị Hồng T1;
Một tờ giấy chữ viết của Châu Thanh T ghi: Châu Thanh T có đưa cho chị T1 số tiền, lãi;
Giấy ghi 102 khoản vay chữ viết của bà Nguyễn Thị Hồng T1;
Một quyển tập học sinh bên trong có ghi giấy đưa nhận tiền đổi vé số trúng thưởng, người nhận tiền Nguyễn Thị Hồng T1, người đưa tiền Châu Thanh T, chữ viết của ông Châu Thanh T.
- Photo lưu hồ sơ và hoàn trả lại bản chính cho bị cáo Châu Thanh T các tài liệu sau:
Một giấy vay mượn tiền ngày 10/3/2023, người vay Võ Thị Huyền T3, người cho vay Châu Thanh T; Một giấy vay mượn tiền ngày 13/8/2023, người vay Nguyễn Thị Như H; Một giấy vay mượn tiền ngày 06/4/2023, người vay Trần Thị T4, người cho vay mượn tiền Châu Thanh T; Một giấy vay mượn tiền ngày 13/01/2024, người vay mượn tiền Đỗ Thị Tuyết N, người cho vay Châu Thanh T; Một giấy tay nghi ngày 26/8/2023; Giấy mượn tiền ngày 8/1/2024; Giấy vay mượn tiền ngày 12/8/2023.
Một quyển tập học sinh bên trong có ghi giấy mượn tiền ngày 21/11/2019, người mượn Ngô Thị Ngọc B;
Một quyển tập học sinh, bên trong có ghi giấy mượn tiền ngày 22/8/2022, người vay Võ Thị Huyền T3, người cho vay Châu Thanh T; giấy vay mượn tiền ngày 07/6/2022, người vay Võ Thị Huyền T3, người cho vay Châu Thanh T; giấy vay mượn tiền ngày 17/5/2022 người vay Võ Thị Huyền T3 người cho vay Hồ Thị L1; giấy vay mượn tiền ngày 06/5/2022 người vay Võ Thị Huyền T3 người cho vay Hồ Thị L1; giấy vay mượn tiền ngày 16/02/2022, ngày 28/4/2022 người vay Đỗ Thị Tuyết N, người cho vay 6 L1; giấy vay mượn tiền ngày 28/3/2022 người vay Trương Thị Ngọc M, người cho vay Châu Thanh T; giấy mượn tiền ngày 08/6/2022 người vay tiền Đỗ Thị Tuyết N, người cho vay vợ chồng Châu Thanh T; giấy ghi cho mượn tiền năm 2022.
[5] Cáo trạng và lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa đã phản ánh đúng hành vi mà bị cáo đã thực hiện, phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xác định cáo trạng và lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại phiên tòa, đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ pháp luật được chấp nhận.
[6] Đối với việc bị cáo T cho bà Võ Thị Huyền T3, bà Trần Thị T4, bà Ngô Thị Ngọc B, bà Đỗ Thị Tuyết N, bà Trương Thị Ngọc M vay tiền lấy lãi theo quy định của pháp luật và bà Hồ Thị L1 cho bà Nguyễn Thị Như H vay tiền lấy lãi theo quy định của pháp luật nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không đề cập xử lý là có căn cứ.
[7] Đối với bà Hồ Thị L1 là vợ của Châu Thanh T tuy biết việc bị cáo T cho bà T1 vay tiền lấy lãi nhưng không biết cụ thể số tiền vay, lãi suất; Châu Xuân C1, Châu Hoàng Đ1 là con của Châu Thanh T không biết bị can T cho bà T1 vay tiền nên không đủ cơ sở xử lý đối với Hồ Thị L1, Châu Xuân C1, Châu Hoàng Đ1.
[8] Đối với số tiền 1.360.000.000đ bà Nguyễn Thị Hồng T1 khai bị cáo Châu Thanh T cho vay và lấy lãi cao nhưng bị cáo T không thừa nhận và không có cơ sở chứng minh nên nên không đủ cơ sở xem xét.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, 136, Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Tuyên bố: Bị cáo Châu Thanh T phạm tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Xử phạt: Bị cáo Châu Thanh T 07 (bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 11/9/2024 và được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/02/2024 đến ngày 31/5/2024.
Áp dụng Điều 329 Bộ Luật tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Châu Thanh T bằng thời hạn hình phạt tù còn lại kể từ ngày tuyên án 03/12/2024. Hết thời hạn tạm giam này, Nhà tạm giữ Công an huyện T có trách nhiệm trả tự do ngay cho bị cáo Châu Thanh T, nếu bị cáo không bị giam, giữ về hành vi vi phạm pháp luật khác.
2. Về biện pháp tư pháp Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự, Nghị Quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 hướng dẫn xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự:
2.1 Buộc bị cáo Châu Thanh T phải nộp số tiền cho vay 132.570.000.000₫ và số tiền lãi 75.764.353đ (tính theo mức lãi suất 20%/năm theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự) để sung ngân sách Nhà nước.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 5.000.000đ đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa theo biên lai thu số 0004041 ngày 02/12/2024 để đảm bảo thi hành án.
2.2 Buộc bà Nguyễn Thị Hồng T1 phải nộp lại số tiền 5.700.000.000đ để sung ngân sách Nhà nước (đây là số tiền bà Nguyễn Thị Hồng T1 chưa trả cho bị cáo Châu Thanh T).
3. Về xử lý vật chứng:
3.1 Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: Một điện thoại di động Samsung G, số Imei: 356416111724801, màu đen, đã qua sử dụng, hiện cơ quan Chi cục Thi hành án huyện Thủ Thừa đang quản lý.
3.2 Tịch thu, lưu trữ trong hồ sơ vụ án các vật chứng sau:
Một giấy đưa nhận tiền đổi vé số trúng thưởng, chữ viết của Châu Thanh T với người đưa tiền là Châu Thanh T, người nhận tiền Nguyễn Thị Hồng T1;
Một tờ giấy chữ viết của Châu Thanh T ghi: Châu Thanh T có đưa cho chị T1 số tiền, lãi;
Giấy ghi số tiền 102 lần vay chữ viết của bà Nguyễn Thị Hồng T1;
Một quyển tập học sinh bên trong có ghi giấy đưa nhận tiền đổi vé số trúng thưởng, người nhận tiền Nguyễn Thị Hồng T1, người đưa tiền Châu Thanh T, chữ viết của ông Châu Thanh T.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ Luật tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Châu Thanh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 03/12/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Mỹ Phượng |
Bản án số 74/2024/HS-ST ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN về hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 74/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Châu Thanh Thúy "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự"
