Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2024 /HSST

Ngày 27-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Độ

Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Phượng và bà Đình Thị Thanh Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Huệ- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 72/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2024 /QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Thế G, tên gọi khác: Không; sinh ngày 26/01/19xx, tại: Lào Cai; Nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố P, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; nơi ở hiện tại: Tổ dân phố H, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá:09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Q - Sinh năm 19xx (đã chết) và Nguyễn Thị T - Sinh năm 19xx; có vợ Trần Thị X và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án số 05/PT1 ngày 19/4/1996 bị Tòa án quân sự Trung ương xử phạt 06 năm tù về tội “Đảo ngữ” và “Cướp tài sản của công dân”. Tại bản án số 106/2011/HSST ngày 15/9/2011 bị Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tại bản án số 95/2015/HSST ngày 29/9/2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (đều đã được xóa án tích). Bị cáo bị tạm giữ ngày 27/6/2024, tạm giam ngày 29/6/2024 . Hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Y. Có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị X, sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Có mặt

Người làm chứng:

  • + Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 19xx; địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện T, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.
  • + Anh Nguyễn Huy H, sinh năm 19xx; địa chỉ: Thôn C, xã Â, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.
  • Người chứng kiến: Ông Trần Phương Đ, sinh năm 19xx; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ ngày 25 đến ngày 27/6/2024 Trần Thế G đã mua ma về bán cho Nguyễn Văn B cụ thể như sau:

- Lần thứ nhất: Vào buổi trưa ngày 25/6/2024, Nguyễn Văn B một mình điều khiển xe môtô nhãn hiệu YAMAHA JUPITER màu vàng - đen đến nơi ở của Trần Thế G hỏi vay số tiền 350.000đồng và để lại chiếc xe mô tô làm tin, G đồng ý cho vay 350.000đồng, vay được tiền Ba ra về. Đến khoảng hơn 12 giờ 00 cùng ngày, B gọi vào số điện thoại 0339.695.xxx của G hỏi mua 01 gói Heroine. G nói 01 gói Heroine giá 350.000 đồng, B đồng ý mua rồi G bảo B đi lên khu vực bờ kè dưới gầm cầu Y đợi. Sau đó G gọi điện thoại cho H2 hỏi mua ma túy, H2 đồng ý bán cho G, khoảng 13 giờ cùng ngày G gặp H2 tại khu vực đường sắt cắt ngang đại lộ Nguyễn Thái H1 mua một gói ma túy có vỏ bọc nilon màu trắng của Hoàng giá 200.000đồng, G đem gói ma túy đi đến khu vực gầm cầu Y thuộc tổ dân phố H, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái gặp B và bán cho Ba với giá 350.000đồng. Sau khi mua được Heroine, B đã sử dụng hết cho bản thân, số tiền bán ma túy G đã sử dụng hết.

- Lần thứ hai: Vào buổi chiều ngày 26/6/2024, Nguyễn Văn B gọi điện cho Trần Thế G hỏi mua 01 gói Heroine. G đồng ý bán rồi hẹn gặp Ba tại khu vực gầm cầu Y, sau đó G liên hệ với H2; G, H2 hẹn địa điểm gặp nhau tại khu vực Công ty C, tại đây G mua của H2 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng. Khoảng 25 phút G đến khu vực gầm cầu Y gặp B, tại đây G bán cho Ba gói ma túy giá 350.000đồng, Ba đưa cho G 700.000₫ (350.000đ ti ền mua ma túy, 350.000đ tiền chuộc lại xe mô tô ngày 25/6/2024 Ba để làm tin khi vay tiền của G). Sau đó B điều khiển xe mô tô đưa G về nhà rồi Ba đi sử dụng hết gói Heroine, số tiền bán ma túy cho B, G đã sử dụng hết.

- Lần thứ ba: Khoảng 15 giờ 50 phút ngày 27/6/2024, B gọi điện thoại cho G hỏi mua 02 gói Heroine với giá 600.000đồng. G đồng ý và hẹn Ba sau khoảng 40 phút gặp nhau tại khu vực gầm cầu Y thuộc phường H, thành phố Y. Sau đó, G liên hệ với H2 và đến đoạn đường sắt cắt ngang đường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái mua của H2 02 gói Heroine được bọc vỏ nilon màu trắng với gi á 400.000đồng. Mua được ma túy G một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu đen, biển số: 21B2-066.92 đến điểm hẹn đỗ xe đợi Ba lúc đó khoảng 16 giờ cùng ngày thì B đi bộ một mình đến chỗ G, G đưa cho Ba hai gói ma túy bằng tay phải, Ba đưa cho G 600.000đồng (đi cùng Ba có Nguyễn Huy H hai người đi bộ đến điểm hẹn. Khi đến nơi, B bảo H ngồi chờ ở ghế đá rồi Ba đi đến gặp G). Khi G cầm tiền cất vào túi quần phía trước bên phải thì bị lực lượng Công an thành phố Y tiến hành kiểm tra, bắt quả tang, Ba bỏ chạy về phía bờ kè sông H, Ba cho ma túy vào mồm nhai định nuốt, không nuốt được Ba nhả gói ma túy từ miệng và tự nguyện giao nộp cho Công an, vật chứng thu giữ gồm:

  • - Thu giữ của Nguyễn Văn B 01 (một) gói nilon màu trắng đã bị nhai, có dịch nước bọt nghi có chứa chất ma túy.
  • - Thu giữ của Trần Thế G: số tiền 5.400.000đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, mang BKS: 21B2-066.92.

Tại kết luận giám định về ma túy số: 406/KL-KTHS ngày 04/7/2024 của phòng K Công an tỉnh Y kết luận:

Gói nilon màu trắng, ướt, dính, do Nguyễn Văn B giao nộp không phát hiện gì bên trong;

Gói nilon màu trắng, ướt, dính gửi giám định có phát hiện chất ma túy, không xác định khối lượng, loại Heroine.

Heroine (H3), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục ma tuý và tiền chất.

Bản cáo trạng số: 76/KSĐT-MT ngày 08 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái truy tố bị cáo Trần Thế G về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái luận tội đối với bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Thế G phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.

- Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Thế G từ 08 năm đến 09 năm tù.

Hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người sử dụng ma túy, không có việc làm, không có thu nhập, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

  • + Tịch thu tiêu hủy: Gói nilon màu trắng do Nguyễn Văn B giao nộp ngày 27/6/2024 (sau khi giám định).
  • + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 1.300.000đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu đỏ- đen gắn sim số 0339.695.697;
  • + Trả lại cho bị cáo và bà Trần Thị X số tiền 4.800.000đồng (bốn triệu tám trăm nghìn đồng).
  • - Về án phí; quyền kháng cáo: Giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qua trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
  2. [2] Tại phiên tòa người người làm chứng, người chứng kiến vắng mặt không có lý do, tuy nhiên lời khai của họ có đầy đủ trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng tới việc xét xử, nên HĐXX xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.
  3. [3] Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, các tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ vụ án và vật chứng của vụ án, do đó, có đủ cơ sở kết luận: Trần Thế G đã bán ma túy cho Nguyễn Văn Ba B lần vào ngày 25, 26, 27/6/2024, các lần bán đều tại khu vực bờ kè gầm cầu Y, thuộc tổ dân phố H, phường H, thành phố Y. Tổng số tiền bị cáo thu lợi bất chính được 1.300.000đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
  4. [4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Đây là nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Do đó cần đưa bị cáo ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
  5. [5] Bị cáo là người có sức khỏe và có đủ năng lực nhận thức để điều chỉnh mọi hành vi hoạt động của bản thân. Bị cáo hiểu rõ tác hại của chất ma túy đối với sức khỏe của con người việc mua bán chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn mua về để sử dụng cho bản thân và bán cho các đối tượng nghiện chất ma túy.
  6. Bị cáo là người có nhân thân xấu: Năm 1996 bị Tòa án quân sự Trung ương xử phạt 06 năm tù về tội “Đảo ngữ” và “Cướp tài sản của công dân”. Năm 2011 bị T1 án nhân dân thành phố L, tỉnh Lào Cai xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Năm 2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (đều được xóa án tích). Sau khi chấp hành xong hình phạt, bị cáo trở về địa phương không lấy đó làm bài học mà còn tiếp tục phạm tội. Thể hiện bị cáo có thái độ coi thường pháp luật, ý thức tu dưỡng và rèn luyện bản thân của bị cáo là rất kém. Do đó cần có một mức hình phạt thỏa đáng tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định thì mới có thể giáo dục cải tạo được bị cáo và phòng chống tội phạm nói chung.
  7. [6] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  8. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bản thân và tự thú về hành vi bán ma túy cho Nguyễn Văn B vào ngày 25, 26/6/2024 đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo theo quy định điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  9. [7]Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện chất ma túy, không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  10. [8] Đối với nguồn gốc số ma túy mà G khai mua của Dương Văn H2 (Hoàng A), quá trình điều tra Dương Văn H2 không thừa nhận có hành vi bán ma túy cho Trần Thế G, nên không có căn cứ để xử lý.
  11. [9] Đối với Nguyễn Văn B là người mua ma túy của G vào các ngày 25, 26, 27/6/2024, các lần mua ma túy Ba đều sử dụng hết cho bản thân. Nên không cấu thành tội phạm Cơ quan điều tra xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn B về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” là phù hợp.
  12. [10] Đối với Nguyễn Huy H là người đi cùng Nguyễn Văn B đến địa điểm mà G, Ba hẹn mua bán ma túy vào ngày 27/6/2024, H không biết G, Ba mua bán ma túy với nhau nên không có căn cứ để xử lý.
  13. [11] Về vật chứng của vụ án:
  14. Đối với gói nilon màu trắng do Nguyễn Văn B giao nộp ngày 27/6/2024 (sau khi giám định) không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
  15. Đối với số tiền 1.300.000đồng (bị cáo đã sử dụng hết 700.000đồng, còn lại 600.000đồng bị thu giữ ngày 27/6/2024), do bị cáo phạm tội mà có và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu đỏ- đen gắn sim số 0339.695.697 do bị cáo sử dụng để liên hệ mua bán trái phép chất ma túy. Nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  16. Đối với số tiền 4.800.000đồng là tài sản hợp pháp của bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị X (vợ bị cáo), tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bà X đều có yêu cầu Hội đồng xét xử trả lại. Xét thấy tài sản trên không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, do đó cần trả lại cho bị cáo và bà X là phù hợp.
  17. Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, BKS: 21B2-066.92 là tài sản hợp pháp của bà Trần Thị X, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà X là phù hợp.
  18. [12] Về án phí: Bị cáo Trần Thế G phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  19. [13] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật;
  20. [14] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái có căn cứ nên được chấp nhận

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Thế G phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
  2. Về hình phạt: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Thế G 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27 tháng 6 năm 2024.
  3. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
    • 3.1 Tịch thu tiêu hủy: Gói nilon màu trắng được niêm phong trong một phong bì niêm phong bằng giấy các mép được dán kín, tại các mép dán có tên, chữ ký của các thành viên tham gia niêm phong và 02 hình dấu tròn đỏ của Phòng K - Công an tỉnh Y mặt trước phong bì có ghi “ Gói nilon màu trắng do Nguyễn Văn B giao nộp ngày 27/6/2024 (sau khi giám định).
    • 3.2 Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 1.300.000đồng (một triệu ba trăm nghìn đồng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel màu đỏ- đen gắn sim số 0339.695.697;
    • 3.3 Trả lại cho bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị X số tiền 4.800.000đồng (bốn triệu tám trăm nghìn đồng).

    (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận ngày 10/10/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Y và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Yên Bái).

  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Thế G phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh;
  • - VKSND TP;
  • - CATPYB (2);
  • - Trại tạm giam;
  • - Sở tư pháp tỉnh Yên Bái;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - THADS thành phố;
  • - THA phạt tù (3);
  • - Lưu HS, T A.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

Trần Thị Độ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2024/HSST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 74/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thế G đã bán ma túy cho Nguyễn Văn B ba lần vào ngày 25, 26, 27/6/2024, các lần bán đều tại khu vực bờ kè gầm cầu Yên Bái, thuộc tổ dân phố H, phường H, thành phố Y. Tổng số tiền bị cáo thu lợi bất chính được 1.300.000đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger