Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH HÀ

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 74/2024/HS-ST

Ngày: 22-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Bùi Quang Sơn
  2. Bà Bùi Thị Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thuỷ - Thư ký Tòa án nhân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở TAND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 55/2024/TLST-HS ngày 11/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xét số 62/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Thị M

sinh năm 1984; nơi sinh, nơi cư trú: thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Khắc C và bà Bùi Thị C1; có chồng là Vũ Mạnh H (đã ly hôn) và có 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 04/08/2024, chuyển tạm giam từ ngày 06/8/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1967, địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương (vắng mặt và có đơn xin xử vắng mặt).

* Người làm chứng:

  • - Anh Khương Văn C2; (vắng mặt)
  • - Ông Nguyễn Đức H1; (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 03/8/2024, Phạm Thị M đi bộ từ nhà mình đến nhà cán bộ tư pháp xã là ông Nguyễn Văn N ở thôn A để hỏi về thủ tục ly hôn. Khi đến nơi M thấy nhà ông N không có ai ở trong nhà, cổng và cửa không khóa nên M đi vào trong phòng khách, nhìn thấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu đen để trên bàn uống nước nên M đã nảy sinh ý định chiếm đoạt điện thoại để sử dụng. Mừng tiến lại gần, dùng tay cầm chiếc điện thoại cho vào túi áo chống nắng đang mặc rồi đi về. Khi kiểm tra thấy chiếc điện thoại bị khóa, M đem đến một cửa hàng sửa chữa điện thoại trên địa bàn huyện N (hiện không nhớ rõ địa điểm cụ thể) mở khóa nhưng không được dẫn đến phần mềm trong điện thoại bị vô hiệu hóa. Khi ông N phát hiện chiếc điện thoại của mình bị mất, nghi ngờ M lấy nên nhờ ông Nguyễn Đức H1 ở gần nhà gọi điện yêu cầu M đem trả điện thoại. Đến 12 giờ cùng ngày thì M mang điện thoại đưa cho anh Khương Văn C2 là hàng xóm nhà ông N và nhờ anh C2 trả điện thoại cho ông N. Ông N kiểm tra điện thoại thấy điện thoại bị khóa không sử dụng được nữa nên đã trình báo Công an xã T. Hồi 15 giờ 40 phút ngày 04/8/2024 Mừng đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đầu thú.

Kết luận định giá tài sản số 19/KL-HĐGTS ngày 05/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện T kết luận: Điện thoại màu đen, nhãn hiệu Iphone, loại 12 Promax 128gb, đã qua sử dụng trị giá là 9.500.000₫

Tại bản cáo trạng số 55/CT-VKS ngày 11/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Phạm Thị M về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như cáo trạng đã mô tả.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Thị M phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s, b, i khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Thị M từ 7-9 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 4/8/2024. Hình phạt bổ sung: không áp dụng. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết luận định giá tài sản, lời khai của bị hại và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 03/8/2024, tại nhà ông Nguyễn Văn N ở thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương, Phạm Thị M lợi dụng sơ hở, lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiện Iphone 12 Promax loại 128 GB trị giá 9.500.000 đồng của ông N.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng với ý thức coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự an toàn xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào. Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú và bồi thường cho bị hại. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đến nay bị hại còn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, i khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã quản lý và trả lại điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax cho ông Nguyễn Văn N. Tuy nhiên điện thoại đó đã bị vô hiệu hoá, không thể sử dụng được nữa nên về nguyên tắc bị cáo phải bồi thường toàn bộ thiệt hại. Tuy nhiên, đến nay bị cáo đã bồi thường cho bị hại 6.000.000 đồng, bị hại tự nguyện không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, không yêu cầu Toà án xem xét về trách nhiệm dân sự nên không đặt ra vấn đề xem xét giải quyết về vật chứng và trách nhiệm dân sự trong vụ án này.

[6] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, Toà án thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s, i khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/QH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị M phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  2. Xử phạt bị cáo Phạm Thị M 7 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/8/2024.
  3. Về án phí: Bị cáo M phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Thanh Hà;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an huyện Thanh Hà;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Công an huyện Thanh Hà;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Hà;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 74/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: M trộm cắp điện thoại
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger