Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRI TÔN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2024/HS-ST

Ngày 19 tháng 11 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Chau Dau.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Châu Thanh Nguyên, chức vụ: Hiệu trưởng Trường tiểu học A thị trấn Tri Tôn và Ông Chau Khon Sốc, chức vụ : Cán bộ hưu trí.

Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Thúy Duy

- Thư ký Toà án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Néang Ly

- Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 75/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 75/2024/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Chau Ranh T (tên gọi khác: H), sinh ngày 10/9/2005, nơi sinh: Huyện T, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp T, xã L, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chau Kim S, sinh năm 1984 và bà Néang Sóc P, sinh năm 1985; Vợ: Chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Tốt; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/6/2024 cho đến nay (có mặt).

2. Chau Đa V (tên gọi khác: Đ), sinh ngày 11/10/2007, nơi sinh: Huyện T, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp T, xã L, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chen T không rõ năm sinh và bà Chau T1, sinh năm 1972 (chết); Vợ: chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/8/2024 cho đến nay (có mặt).

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Chau Đa Vúth T2: Ông Chau T3, sinh năm 1946; nơi cư trú: Ấp T, xã L, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).

Bị hại: Anh Dương Thanh N, sinh năm 2001; nơi cư trú: Ấp A, xã L, huyện T, tỉnh An Giang (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Dương Văn G, sinh năm 1979; nơi cư trú: Ấp A, xã L, huyện T, tỉnh An Giang (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Ông Chau Sa R, sinh năm 2002; nơi cư trú: Ấp T, xã L, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).

Người làm chứng:

Ông Trần Trọng A, sinh năm 2005; nơi cư trú: Ấp A, xã L, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Người phiên dịch:

Ông Kim S1, sinh năm 1964; nơi cư trú: Ấp P, xã C, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ, ngày 08/02/2024, sau khi uống bia xong, Chau Ranh T và Chau Đa Vúth Thi đang ở nhà của N2, ở ấp T, xã L, huyện T, tỉnh An Giang thì nhận được điện thoại của N1 (chưa rõ họ tên, địa chỉ) kêu đến chùa T4 đánh nhau, N2 và T2 rủ nhau cùng đi và mỗi bị cáo cầm theo 01 cây dao bằng kim loại dùng chặt cây thì Chau Sa R điều khiển xe mô tô 67N1-573.04 lại chở N2 và T2 đến điểm hẹn, trên đường đi gần đến cổng chùa T4, thuộc ấp T, xã L, huyện T bị N2 và T2 thấy anh Dương Thanh N điều khiển xe mô tô 67G1-381.52 chở anh Trần Trọng An H1 ngược chiều, còn khoảng cách 15m, nghĩ phe nhóm đánh nhau nên N2 và T2 cầm dao nhảy xuống xe, rồi chặn đầu xe của anh N và A lại, sợ bị đánh anh N và A bỏ xe mô tô chạy trốn thoát, N2 và T2 cầm dao chém nhiều nhát và đập nhiều cái vào xe mô tô 67G1-381.52, nhãn hiệu Honda, loại Winner của anh N, gây hư hỏng nhiều bộ phận. Xong, N2 và T2 lên xe chạy đi và ném bỏ 02 cây dao dọc đường. Sau đó, anh N đến Công an xã Lương Phi trình báo sự việc.

Ngày 10/6/2024, Chau Ranh T bị khởi tố và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Ngày 04/8/2024, Chau Đa V bị khởi tố, truy nã. Đến ngày 07/8/2024, T2 ra đầu thú.

Tang vật thu giữ gồm: Xe mô tô biển số 67G1-381.52, nhãn hiệu Honda, loại Winner, bị hư hỏng do bị đập phá, đã trả cho bị hại; xe mô tô biển số 67N1-573.04, nhãn hiệu Honda, loại Sonic 150R đã trả cho chủ sở hữu Chau Sa R.

Tại kết luận định giá tài sản số 15 ngày 29/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, tỉnh An Giang, kết luận: Xe mô tô biển số 67G1-381.52, nhãn hiệu Honda, loại Winner bị hư hỏng các bộ phận sau:

  • - Dàn áo xe, trị giá 4.000.000 đồng;
  • - Cụm đồng hồ đo tốc độ, trị giá 2.000.000 đồng;
  • - Cụm đèn tín hiệu và chiếu sáng phía trước, trị giá 800.000 đồng;
  • - Bơm nước và bình nước phụ, trị giá 1.000.000 đồng;
  • - Két nước tản nhiệt, trị giá 600.000 đồng;
  • - Biển số xe bị cong, vênh, trị giá 50.000 đồng.

Tổng giá trị xe mô tô bị hư hỏng được định giá 8.850.000 đồng.

Kết quả khám nghiệm hiện trường và bản ảnh đã lưu giữ phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Dương Thanh N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Dương Văn G chủ sở hữu xe mô tô 67G1-381.52 đã nhận lại xe và đã nhận tiền bồi thường 14.500.000 đồng nên không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Chau Sa R đã nhận lại xe mô tô biển số 67N1-573.04 nên không yêu cầu gì khác.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Chau Ranh T, Chau Đa V khai nhận phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.

Trần Văn B, Trần Văn V, S, Trương Thanh H2 Tại Cáo trạng số: 75/CT-VKSTT ngày 30/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang đã truy tố Chau Ranh T, Chau Đa V về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo Chau R1 Ta Na và Chau Đa V vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ đến vụ án, người làm chứng vắng mặt nhưng quá trình điều tra đều khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Về hình phạt bị hại đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật. Còn về phần trách nhiệm dân sự, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thêm gì khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Anh Chau Sa R2 trình bày: Ông đã nhận lại xe mô tô biển số 67N1-573.04 nên không yêu cầu gì khác. Còn đối với số tiền ông cùng góp với bị cáo Chau R1 Ta Na để khắc phục hậu quả, ông tự thoả thuận với bị cáo N2 nên không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về hình phạt chính:

Đối với bị cáo Chau Đa Vúth T2 áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo: Chau Đa Vúth Thi từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng.

Đối với bị cáo Chau R1 Ta Na áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo: Chau Ranh Ta Na từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm.

- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo Chau Đa Vúth T2 chưa thành niên, bị cáo Chau R1 Ta Na có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập không ổn định nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã nhận tiền bồi thường và nhận lại xe và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét.

- Về vật chứng vụ án: Không có.

Đối với Chau Sa R và Chau S2 có hành vi cùng nhau dung dao chém 02 nhát vào lưng của anh Nguyễn Thanh G1 gây thương tích 02%, đã được thụ lý giải quyết trong vụ án khác.

Chau Sa R còn chở các bị cáo Chau Ranh T, Chau Đa V gần đến chùa T4 thì bất ngờ bị cáo N2 và T2 nhảy xuống xe, chặn đường đập phá xe mô tô tô của bị hại. Xét thấy, R không hứa hẹn trước và cũng không tham gia đập phá làm hư hỏng xe mô tô nên Cơ quan điều tra không khởi tố là có căn cứ.

Các bị cáo Chau Ranh Ta N2 và Chau Đa V không có tranh luận và bào chữa gì, các bị cáo gửi lời xin lỗi đến gia đình bị hại về hành vi thiếu suy nghĩ, nhận thức của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ đến vụ án và người làm chứng vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ đến vụ án và người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 23 giờ, ngày 08/02/2024, tại khu vực đoạn đường gần cổng chùa T4 thuộc ấp T, xã L, huyện T, tỉnh An Giang các bị cáo Chau Ranh Ta N2, Chau Đa V đã có hành vi dùng dao chém nhiều nhát và đập nhiều cái vào xe mô tô biển số 67G1-381, nhãn hiệu Honda, loại Winner của anh N và làm hư hỏng xe của anh N gây thiệt tổng giá trị 8.850.000 đồng.

Hành vi của các bị cáo Chau R1 Ta Na, Chau Đa V đã phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt là phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, vai trò tham gia trong vụ án, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Các bị cáo Chau Ranh T, Chau Đa V là những người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết và nhận thức được việc làm hư hỏng tài sản người khác là vi phạm pháp luật. Trong khi giữa các bị cáo và bị hại chưa hề có mâu thuẩn từ trước đáng lẽ ra khi anh N và A bỏ chạy các bị cáo nên dừng lại hành vi. Vậy, mà các bị cáo vẫn cùng nhau cố ý có hành vi dùng dao chém nhiều nhát và đập nhiều cái vào xe mô tô của anh N gây hư hỏng, hành vi của các bị cáo là cố ý và mong muốn cho hậu quả xảy ra, thể hiện sự coi thường pháp luật, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, xâm phạm trực tiếp đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ và gây mất an ninh tại địa phương.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tôi lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi phạm tội riêng bị cáo N2 tự nguyện khắc phúc hậu quả. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Chau Ranh T, Chau Đa V không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Xét thấy: Các bị cáo Chau Ranh T, Chau Đa V trước phạm tội các bị cáo là người có nhân thân tốt, được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ mà không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Ngoài ra, bị cáo Chau Đa Vúth T2 khi thực hiện hành vi phạm tôi bị cáo chưa thành niên nên nhận thức có phần hạn chế. Từ đó, nếu không bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để cho các bị cáo được hưởng án treo. Đây là cơ hội để các bị cáo phấn đấu sửa chữa lỗi lầm và trở thành người có ích cho xã hội sau này.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Xét thấy, bị cáo Chau Đa Vúth T2 phạm tội khi chưa thành niên, theo khoản 6 Điều 91 Bộ luật Hình sự quy định “không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người dưới 18 tuổi phạm tội” nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cao Chau Đa V. Còn đối với bị cáo Chau R1 Ta Na không có tài sản, nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Chau Ranh Ta N2.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã nhận lại tài sản và tiền bồi thường và không yêu cầu bồi thường gì khác, do dó Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết tiếp.

[7] Về vật chứng: Đã giao trả lại cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên đến vụ án nên Hội động xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.

Đối với Chau Sa R và Chau S2 có hành vi cùng nhau dung dao chém 02 nhát vào lưng của anh Nguyễn Thanh G1 gây thương tích 02%, đã được thụ lý giải quyết trong vụ án khác.

Chau Sa R còn chở bị cáo N2 và T2 gần chùa T4 thì bất ngờ N2 và T2 nhảy xuống xe, chặn đường đập phá xe mô tô tô của bị hại. Xét thấy, R không hứa hẹn trước cà cũng không tham gia đập phá làm hư hỏng xe mô tô nên Cơ quan điều tra không khởi tố là có căn cứ.

[8] Về các vấn đề khác: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Chau Ranh T (H), Chau Đa V (Đa) phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 90, Điều 91, Điều 101 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Chau Đa Vúth T2 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án.

Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Chau R1 Ta Na 01 (một) năm 03 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án.

Giao các bị cáo Chau Đa Vúth T2, Chau Ranh T cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

(Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo).

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Các bị cáo Chau Đa Vúth T2 và Chau R1 Ta Na mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát huyện Tri Tôn;
  • - Công an huyện Tri Tôn;
  • - Chi cục thi hành án dân sự;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Tri Tôn;
  • - UBND xã Lương Phi;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Chau Dau

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Chau Khon Sốc

TP – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Châu Thanh Nguyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG về cố ý làm hư hỏng tài sản

  • Số bản án: 74/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý làm hư hỏng tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ta Na và Thi đã có hành vi côc ý gây hư hỏng tài sản của người khác
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger