Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH CHƯƠNG

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 74/2024/HSST

Ngày: 08/11/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Sơn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tư Hải Phong, ông Nguyễn Đức Lam

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Thoả. Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Phú - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 11 năm 2024. Tại: Trụ sở Trường Trung học phổ thông C1, ở xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An.

Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2024/HSST, ngày 15 tháng 10 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2024/QĐXXST-HS, ngày 23/10/2024, đối với bị cáo:

1. Bị cáo: Lê Văn T, sinh ngày 17/6/1992. Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Thẻ CCCD: [...]. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông: Lê Văn P (chết) và bà Trần Thị T1, sinh năm 1959; vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1996 (đã ly hôn); con: Có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/3/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm như sau: Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 28/3/2024, Nguyễn Đức L (sinh năm 1992, trú tại thôn M, xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An) sử dụng điện thoại nhãn hiệu VIVO, màu đen gắn thẻ sim có số thuê bao 0987856592 gọi đến số 0337441833 cho Lê Văn T và hỏi: “Có đồ không, để cho cấy ba” (ý hỏi mua của T 300.000₫ ma tuý). T trả lời “có”. Nguyễn Đức L sử dụng ứng dụng Internet banking của A có số tài khoản 2013206413201 mang tên Nguyễn Đức Luân C số tiền 300.000đ đến số tài khoản ngân hàng M có số tài khoản 0337441833 của T. Sau khi nhận được tiền, T lấy một ít ma tuý (từ số ma tuý T đang cất giấu tại bàn thờ) rồi gói lại bằng giấy thiếc thuốc lá và để vào cột trụ cổng bên trái để L đến lấy. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, Nguyễn Đức L đi đến trước cổng nhà và gọi cho T. T nói: “hàng để trên cột quyết, mi leo lên cột quyết trước cổng mà lấy”. L lấy số ma tuý nói trên rồi đi đến khu vực Nghĩa trang L1 xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An để sử dụng thì bị Công an xã T, bắt quả tang và thu giữ số ma tuý nói trên và 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu VIVO, màu đen, gắn thẻ sim có số thuê bao 0987856592.

Đến khoảng 16 giờ 45 phút cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an huyện T tiến hành khám xét chỗ ở của Lê Văn T tại thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An và thu giữ: 01 (một) hộp nhựa màu trắng, bên trong có 01 (một) gói giấy chứa 01 (một) gói túi ni lông màu trắng đựng chất rắn màu trắng; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu xám không gắn thẻ sim.

Quá trình điều tra vụ án, chứng minh được: ngoài lần phạm tội nêu trêu, Lê Văn T đã có 04 (bốn) lần bán ma tuý khác cho Nguyễn Đức L. Cụ thể như sau:

  • Khoảng 13 giờ 49 phút ngày 15/3/2024, tại cổng nhà riêng của Lê Văn T có địa chỉ thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, Lê Văn T đã bán cho Nguyễn Đức L 500.000đ ma tuý. (Luân chuyển khoản trước sau đó đến cổng nhà T lấy ma tuý từ T).
  • Khoảng 12 giờ 14 phút ngày 21/3/2024, tại cổng nhà riêng của Lê Văn T có địa chỉ thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, Lê Văn T đã bán cho Nguyễn Đức L 300.000đ ma tuý. (Luân chuyển khoản trước sau đó đến cổng nhà T lấy ma tuý từ T).
  • Khoảng 11 giờ 07 phút ngày 25/3/2024, tại cổng nhà riêng của Lê Văn T có địa chỉ thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, Lê Văn T đã bán cho Nguyễn Đức L 500.000₫ ma tuý. (Luân chuyển khoản trước sau đó đến công nhà T lấy ma tuý từ T).
  • Khoảng 11 giờ 07 phút ngày 27/3/2024, tại cổng nhà riêng của Lê Văn T có địa chỉ thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, Lê Văn T đã bán cho Nguyễn Đức L 300.000đ ma tuý (L trả tiền mặt cho T, sau đó T giao ma tuý cho L).

Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã thành lập Hội đồng tiến hành mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu đi giám định và niêm phong lại đối với các vật chứng thu giữ được của Nguyễn Đức L và Lê Văn T. Tại Bản kết luận giám định số 379/KL-KTHS-(Đ2-MT) ngày 05/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:

“ - Mẫu chất bột màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Đức L gửi giám định là ma tuý; loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.

-Số chất bột màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Đức L có khối lượng là 0,025g (không phẩy không trăm hai mươi lăm gam).

-Mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu M1) thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Văn T gửi giám định là ma tuý; loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất.

-Số chất bột màu trắng thu giữ khi khám xét chỗ ở khẩn cấp của Lê Văn T có khối lượng là 1,765g (một phẩy bảy trăm sáu mươi lăm gam)”.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Áp dụng Điều 106; 136 Bộ luật tố tụng hình sự: Xử phạt Lê Văn T, từ 08 đến 08 năm 09 tháng tù; tịch thu tiêu hủy: Số ma tuý còn lại; 01 mảnh giấy thiếc, 01 hộp nhựa màu trắng, 01 mảnh giấy màu xám đỏ, 01 gói ni lông màu trắng; truy thu tại bị cáo để sung vào ngân sách nhà nước số tiền 1.900.000 đồng do bán ma tuý mà có; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Lê Văn T, đã hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với lời khai của người làm chứng; phù hợp với vật chứng đã thu được; phù hợp với các kết luận giám định.

Xét về chứng cứ đã có đủ cơ sở để kết luận:

Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 28/3/2024, tại nhà ở thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, Lê Văn T đã có hành vi bán 0,025g (không phẩy không hai lăm gam) ma tuý (H1) cho Nguyễn Đức L (sinh năm 1992, trú tại thôn M, xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An) với giá 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) thì bị Công an xã T bắt quả tang. Lê Văn T có hành vi tàng trữ 1,765g (một phẩy bảy trăm sáu mươi lăm gam) ma tuý (H) để bán kiếm lời. Ngoài ra, Lê Văn T còn có 04 (bốn) lần bán ma tuý cho Nguyễn Đức L vào các ngày 15/3/2024, 21/3/2024, 25/3/2024, 27/3/2024 lần lượt với số tiền: 500.000 đồng, 300.000 đồng, 500.000 đồng, 300.000 đồng. Tổng số tiền mà Lê Văn Trung T2 lợi do bán ma tuý: 1.900.000 đồng.

Như vậy đã có đủ cơ sở để khẳng định bị cáo Lê Văn T, phạm tội " Mua bán trái phép chất ma túy”, như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng.

[3] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm, ảnh hưởng đến an ninh trật xã hội; hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Cho nên cần xét xử nghiêm, mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung và cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo.

Tuy nhiên xét thấy quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình. Bị cáo có mẹ là người có công đã được tặng Huy chương chiến sĩ vẻ vang, có bố được Nhà nước tặng Bằng khen; các tình tiết này được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Cho nên cũng cần xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo, để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Xét thấy các bị cáo không có tài sản gì có giá trị lớn, thu nhập không ổn định; nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[4] Đối với Nguyễn Đức L có hành vi tàng trữ 0,025g ma tuý (heroin) để sử dụng, Công an huyện T đã ra quyết định xử lý vi phạm hành chính theo đúng quy định pháp luật.

Ngoài ra, Lê Văn T khai nhận vào khoảng 22 giờ, ngày 28/3/2024, tại nhà riêng, Lê Văn T mua của một người đàn ông tên T3 (trú tại huyện Đ, hiện chưa xác định được lai lịch cụ thể) 5.500.000đ (năm triệu năm trăm nghìn đồng) ma tuý (H2) để sử dụng và bán kiếm lời. Khi mua được ma tuý, T cầm ma tuý đi vào nhà và lấy một ít ra để sử dụng. Số ma tuý còn lại T gói bằng vỏ bao thuốc lá màu xám, cho vào hộp nhựa màu trắng và cất giấu trên bàn thờ tại phòng khách nhằm mục đích ai mua để bán kiếm lời. Quá trình xác minh số tài khoản và số điện thoại, Cơ quan CSĐT đã xác minh được Trần Văn T3 (sinh năm: 1994, trú tại khối G, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An). Tuy nhiên, T3 cho biết: T3 có quen biết T qua điện thoại. Trung chuyển tiền vào tài khoản của T3 để nhờ nạp tiền chơi “game”, T3 không bán ma tuý cho T. Hiện chưa có căn cứ xử lý T3 về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý. Cơ quan CSĐT công an huyện T đang tiến hành xác minh, khi nào có căn cứ, sẽ xử lý sau.

[5] Về vật chứng: Trong quá trình điều tra đã thu giữ: 01 (Một) gói thiếc chứa 0,025g (không phẩy không hai lăm gam) ma tuý (Heroin) thu giữ của Nguyễn Đức L. 01 (một) hộp nhựa màu trắng, bên trong có 01 (một) gói giấy màu xám đỏ chứa 01 (một) gói ni lông màu trắng đựng ma tuý (Heroin) thu giữ của Lê Văn T, có khối lượng 1,765 gam; 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu xám không gắn thẻ sim; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, gắn thẻ sim có số thuê bao 0337441833 thu giữ của Lê Văn T. 01 (một) mảnh giấy thiếc; 01 (một) hộp nhựa màu trắng; 01 (một) mảnh giấy màu xám đỏ; 01 (một) gói ni lông màu trắng.

Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT đã sử dụng hết 0,025g (không phẩy không hai lăm gam) chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Đức L và 0,060g (không phẩy không sáu gam) chất bột màu trắng thu giữ của Lê Văn T để phục vụ công tác giám định.

Xét thấy còn lại: 1,705g (một phẩy bảy trăm lẻ năm gam) chất bột màu trắng; 01 (một) mảnh giấy thiếc; 01 (một) hộp nhựa màu trắng; 01 (một) mảnh giấy màu xám-đỏ; 01 (một) gói ni lông màu trắng; là vật chứng của vụ án, cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, gắn thẻ sim có số thuê bao 0337441833 thu giữ của Lê Văn T, liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần tịch thu sung nộp ngân sách nhà nước.

Đối với 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu xám không gắn thẻ sim, không liên quan đến phạm tội, nên cần trả lại cho bị cáo.

Đối với số tiền 1.900.000 đồng mà Lê Văn T có được từ việc 05 lần bán ma tuý cho tuý Nguyễn Đức L, thì cần truy thu tại bị cáo để sung vào ngân sách Nhà nước.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm b, khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Điều 106; 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Xử phạt bị cáo: Lê Văn T, 08 (Tám) năm, 06 (Sáu) tháng tù.

    Thời hạn tù tính từ ngày 28/3/2024.

  3. Về vật chứng:
    1. Tịch thu tiêu hủy: 1,705g (một phẩy bảy trăm lẻ năm gam) chất bột màu trắng; 01 (một) mảnh giấy thiếc; 01 (một) hộp nhựa màu trắng; 01 (một) mảnh giấy màu xám đỏ; 01 (một) gói ni lông màu trắng.
    2. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, gắn thẻ sim có số thuê bao 0337441833.
    3. Trả cho bị cáo Lê Văn T: 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu xám không gắn thẻ sim.
    4. Truy thu tại bị cáo Lê Văn T, số tiền: 1.900.000 đồng (Một triệu, chín trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.

    (Chi tiết các vật chứng có tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An).

  4. Về án phí: Bị cáo Lê Văn T, phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Bị cáo, có quyền kháng cáo lên Toà án cấp trên trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Sở tư pháp, TAND tỉnh Nghệ An
  • - CA, VKS huyện Thanh Chương
  • - THA hình sự
  • - Chi cục THA dân sự TC
  • - UBND xã Thanh Chi
  • - Bị cáo, Lưu VP, lưu HS

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trọng Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2024/HSST ngày 08/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 74/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Tr mua bán ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger