Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIẾN THỤY

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2024/HS-ST

Ngày 07-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngà

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Nguyễn Văn Lượng

Bà Đặng Thị Đôi

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Quý - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 67/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Trần Đình T, sinh ngày 27/12/1961 tại Hải Phòng; nơi đăng ký HKTT: Tổ D, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Số A, Lô D T, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình T1 và bà Trần Thị D; có vợ là Nguyễn Thị H (đã ly hôn) và 02 con; tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 22/HSST ngày 04/3/1995 của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù về tội Chứa mại dâm (chưa được xóa án tích); tiền sự: Ngày 13/10/2023, bị Trưởng Công an quận K, thành phố Hải Phòng xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi đánh bạc trái phép (chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính); nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 127 ngày 22/9/1981 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, Hải Phòng xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội Trộm cắp tài sản của công dân (đã được xóa án tích); bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/7/2024; có mặt.

2. Nguyễn Văn K, sinh ngày 23/8/1955 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 5/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị L; có vợ là Trương Thị Hoa C và 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 13/10/2023, bị Trưởng Công an quận K, thành phố Hải Phòng xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi đánh bạc trái phép (chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính); nhân thân: Không; bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/7/2024; có mặt.

3. Trần Đức T2 (tên gọi khác Trần Minh T3), sinh ngày 15/7/1953 tại Hải Phòng; nơi đăng ký HKTT: Số D N, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số A Hồ S, phường H, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 6/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đức L1 và bà Phạm Thị H1; có vợ là Vũ Thị N (đã chết) và 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 13/10/2023, bị Trưởng Công an quận K, thành phố Hải Phòng xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi đánh bạc trái phép (chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính); nhân thân: Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 131 ngày 19/11/1977 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản XHCN (đã được xóa án tích); bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/7/2024; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Hoàng Văn B1, sinh năm 1958; nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Sau khi ăn trưa xong, vào khoảng 15 giờ ngày 06/3/2024 tại nhà ông Nguyễn Văn C1, ở thôn V, xã H, huyện K, thành phố Hải Phòng, có Nguyễn Văn K, Trần Đức T2, Trần Đình T và Hoàng Văn B1 rủ nhau đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh phỏm. Cả nhóm lấy bộ bài có sẵn tại nhà ông C1 để đánh bạc. Quy ước đánh bạc, nếu có người ù thì những người còn lại phải thanh toán cho người ù 30.000 đồng, nếu không có người ù thì người về thứ 2 bỏ ra 5.000 đồng, người về thứ 3 bỏ ra 10.000 đồng, người về thứ 4 bỏ ra 15.000 đồng, nếu ai không có phỏm bỏ ra 20.000 đồng trả cho người về nhất. Trong thời gian các đối tượng đánh bạc không phải nộp tiền hồ, không bố trí người canh gác hay cầm đồ tài sản. Cả nhóm đánh bạc đến 15 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an huyện K phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính, thu giữ số tiền 110.000 đồng, 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân.

Số tiền đánh bạc được xác định như sau: Nguyễn Văn K dùng 30.000 đồng để đánh bạc, bị thua hết; Trần Đức T2 dùng 30.000 đồng để đánh bạc, bị thua 5.000 đồng; Trần Đình T dùng 30.000 đồng để đánh bạc, thắng 35.000 đồng; Hoàng Văn B1 dùng 20.000 đồng để đánh bạc, không thắng không thua.

Vật chứng thu giữ gồm: Số tiền 110.000 đồng và 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy quản lý.

Tại bản Cáo trạng số 68/CT-VKSKT ngày 10/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy đã truy tố các bị cáo Trần Đình T, Nguyễn Văn K, Trần Đức T2 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng.

Sau quá trình thẩm vấn, đánh giá tính chất của vụ án cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của các bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
  • Xử phạt: Trần Đình T mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s, x khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 của Bộ luật Hình sự;
  • Xử phạt: Nguyễn Văn K mức án từ 12 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Miễn khấu trừ một phần thu nhập hàng tháng cho bị cáo.
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s, x, o khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 của Bộ luật Hình sự;
  • Xử phạt: Trần Đức T2 mức án từ 12 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Miễn khấu trừ một phần thu nhập hàng tháng cho bị cáo.
  • - Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
  • - Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • + Tịch thu số tiền 110.000 đồng của các bị cáo và đối tượng dùng vào đánh bạc để sung vào ngân sách Nhà nước.
  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân.

Sau khi đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận, các bị cáo đều đồng ý và không có ý kiến tranh luận.

Các bị cáo nói lời sau cùng đều tỏ ra ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Trong khoảng thời gian từ 15 giờ đến 15 giờ 30 phút ngày 06/3/2024 tại nhà ông Nguyễn Văn C1 ở thôn V, xã H, huyện K, thành phố Hải Phòng, Trần Đình T, Nguyễn Văn K, Trần Đức T2 đã có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh phỏm được thua bằng tiền với tổng số tiền là 110.000 đồng, bị bắt quả tang cùng vật chứng. Các bị cáo Trần Đình T, Nguyễn Văn K, Trần Đức T2 đều đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Như vậy, hành vi của Trần Đình T, Nguyễn Văn K, Trần Đức T2 đã thỏa mãn cấu thành đồng phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng. Cần xử phạt nghiêm đối với các bị cáo.

[4] Về đánh giá vai trò của các bị cáo trong vụ án: Trong vụ án này, 03 bị cáo đều có sự nhất trí, cố ý cùng thực hiện tội phạm, nhưng không có sự bàn bạc từ trước và phân công thực hiện tội phạm, không có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm, mỗi bị cáo đều dùng số tiền 30.000 đồng để đánh bạc; vì vậy, đây thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều có vai trò ngang nhau.

[5] Về nhân thân:

[5.1] Bị cáo Trần Đình T bị Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, Hải Phòng kết án tại Bản án hình sự sơ thẩm số 127 ngày 22/9/1981, xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, đã được xóa án tích.

[5.2] Bị cáo Trần Đức T2 bị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng kết án tại Bản án hình sự sơ thẩm số 131 ngày 19/11/1977, xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản XHCN”, đã được xóa án tích.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[6.1] Bị cáo Trần Đình T bị Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng kết án tại Bản án hình sự sơ thẩm số 22/HSST ngày 04/3/1995, xử phạt 12 tháng tù về tội “Chứa mại dâm”. Ngày 24 tháng 11 năm 1995 bị cáo chấp hành xong hình phạt chính, tuy nhiên đến trước ngày phạm tội lần này (ngày 06/3/2024) bị cáo vẫn chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án số 22/HSST ngày 04/3/1995 (cụ thể là chưa nộp 50.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 500.000 đồng tiền phạt bổ sung để sung công quỹ Nhà nước). Bị cáo chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[6.2] Các bị cáo Nguyễn Văn K, Trần Đức T2 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn K, Trần Đức T2 là người có công với cách mạng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Trần Đức T2 là người đủ 70 tuổi trở lên nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm o khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[8] Về hình phạt chính: Đây là vụ án đồng phạm, khi quyết định hình phạt Tòa án xét đến tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng bị cáo; vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc bị cáo Trần Đình T chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo; đồng thời để phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. Đối với bị cáo Nguyễn Văn K, Trần Đức T2 xét thấy không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ là đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung. Bị cáo Nguyễn Văn K, Trần Đức T2 là người cao tuổi, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử miễn khấu trừ một phần thu nhập đối với bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 36 của Bộ luật Hình sự.

[9] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng các bị cáo trong vụ án đều không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, Hội đồng xét xử xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, tính chất, mức độ hành vi phạm tội nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[10] Về xử lý vật chứng: Số tiền 110.000 đồng của các bị cáo và đối tượng dùng vào đánh bạc cần tịch thu để sung vào ngân sách Nhà nước. 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân là công cụ, phương tiện phạm tội; cần tịch thu tiêu hủy.

[11] Trong vụ án này, ông Nguyễn Văn C1 không biết các bị cáo đánh bạc tại nhà của mình nên không xử lý. Đối với Hoàng Văn B1 có hành vi đánh bạc với số tiền dưới 5.000.000 đồng, chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc nên Cơ quan điều tra chuyển Công an huyện K để quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng pháp luật.

[12] Về án phí: Các bị cáo thuộc trường hợp người cao tuổi, bị cáo Nguyễn Văn K, Trần Đức T2 là người có công với cách mạng, đều đã có đơn đề nghị miễn án phí, nên được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

[13] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Trần Đình T, Nguyễn Văn K, Trần Đức T2; áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Đình T; áp dụng thêm điểm x khoản 1 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn K, Trần Đức T2; áp dụng thêm điểm o khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Đức T2.
  • - Tuyên bố: Các bị cáo Trần Đình T, Nguyễn Văn K, Trần Đức T2 phạm tội “Đánh bạc”.
  • - Xử phạt:
  • + Bị cáo Trần Đình T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
  • + Bị cáo Nguyễn Văn K 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ một phần thu nhập cho bị cáo.
  • + Bị cáo Trần Đức T2 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ một phần thu nhập cho bị cáo.
  • Giao bị cáo Nguyễn Văn K cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng để giám sát và giáo dục.
  • Giao bị cáo Trần Đức T2 cho Ủy ban nhân dân phường H, quận L, thành phố Hải Phòng để giám sát và giáo dục.
  • Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ của các bị cáo Nguyễn Văn K, Trần Đức T2 tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
  • Trong trường hợp bị cáo áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự như sau:

“1. Người chấp hành án cải tạo không giam giữ có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 30 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian chấp hành án, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.

2. Người chấp hành án cải tạo không giam giữ khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của UBND cấp xã, trường hợp không đồng ý thì UBND cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người chấp hành án cải tạo không giam giữ khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của UBND cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người chấp hành án cải tạo không giam giữ vi phạm pháp luật, UBND cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho UBND cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.

3. Việc giải quyết trường hợp người chấp hành án cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc được thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.

4. Người chấp hành án cải tạo không giam giữ không được xuất cảnh trong thời gian chấp hành án.”

  • - Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Trần Đình T không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù.
  • - Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo Nguyễn Văn K, Trần Đức T2 kể từ ngày tuyên án.
  • - Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • + Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 110.000đ (một trăm mười nghìn đồng) (theo ủy nhiệm chi tại kho bạc nhà nước huyện K ngày 14/10/2024).
  • + Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy).
  • - Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; các bị cáo Trần Đình T, Nguyễn Văn K, Trần Đức T2 được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  • Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
HỘI THẨM NHÂN DÂN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Lượng Phạm Thị Ngà
Đặng Thị Đôi

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Kiến Thụy;
  • - Công an huyện Kiến Thụy;
  • - Trại tạm giam Hải Phòng;
  • - Phòng PV06 + PC10 Công an Hải Phòng;
  • - Chi cục THADS huyện Kiến Thụy;
  • - Sở tư pháp;
  • - UBND phường Nghĩa Xá và phường Hàng Kênh, quận Lê Chân;
  • - UBND phường Cầu Tre, quận Ngô Quyền;
  • - UBND xã Tân Dương, huyện Thủy Nguyên;
  • - UBND phường Thượng Lý, quận Hồng Bàng;
  • - Các bị cáo;
  • - Người có QL, NV liên quan;
  • - Lưu: VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Ngà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc

  • Số bản án: 74/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Đình T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger