|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 74/2024/HS-ST Ngày: 30-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền
Thẩm phán: Ông Hồ Đức Quang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Hồng
Ông Trần Trung Thành
Ông Nguyễn Tất Thể
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Soan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 57/2024/TLST- HS ngày 10 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 58/2024/HSST-QĐ ngày ngày 26 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phùng Hà T; tên gọi khác: Không; giới tính: Nữ, sinh ngày 12/01/1985 tại phường B, quận K, thành phố Hải Phòng; nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Phùng Văn T1, sinh năm 1949; con bà: Hoàng Thị Đ, sinh năm 1955, hiện trú tại: Phường B, quận K, thành phố Hải Phòng; anh, chị em ruột: Có 3 người, bị cáo là con út; chồng: Mai Văn B, sinh năm 1985; con: Có 03 con (con đầu sinh năm 2011; con út sinh năm 2024) đều trú tại: Thôn H, xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị khởi tố bị can ngày 05/02/2024 và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Bùi Hoàng Linh C – Luật sư thuộc Công ty L; địa chỉ: B, đường V, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.
- Bị hại:
- Chị Đặng Thị T2, sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ D, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.
- Chị Trần Thị H, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Chị Võ Thị T3, sinh năm 1988; địa chỉ: Xóm H, xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị B1, sinh năm 1992; địa chỉ: Xóm T, xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 3/2023, Phùng Hà T đến Văn phòng Công ty G hoạt động về tư vấn du học (tại số I đường B, thành phố H của ông Nguyễn Bá T4 trú tại H, Hà Nội) và gặp chị Đặng Thị T2- là nhân viên văn phòng, T tự giới thiệu là nhân viên ngân hàng V chuyên rút tiền thẻ tín dụng cho người có nhu cầu và xin làm cộng tác viên (tìm kiếm, giới thiệu khách hàng có nhu cầu đi du học) cho Văn phòng Công ty, chị T2 đồng ý. Quá trình này, chị T2 đưa thẻ tín dụng của mình và một số người nhờ T rút tiền thẻ tín dụng và T thực hiện đúng yêu cầu. Đến tháng 7, 8/2023, T đang nợ tiền của một số người đến hạn phải trả nên T đã đưa ra thông tin gian dối về việc làm dịch vụ rút tiền thẻ tín dụng cho nhiều người hoặc mua ngoại tệ giá rẻ để lấy tiền trả nợ và chi tiêu cá nhân dẫn đến mất khả năng trả lại tiền cho họ, cụ thể:
1.1. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 4.580.350.000 đồng của chị Đặng Thị T2 (sinh năm 1982, trú tại tổ D, phường T, thành phố H).
Từ tháng 3 đến tháng 6/2023, chị Đặng Thị T2 nhiều lần đưa thẻ tín dụng của mình và một số người nhờ Phùng Hà T rút tiền thẻ tín dụng. Sau khi nhận thẻ, T thực hiện việc rút tiền và chuyển trả tiền cho chủ thẻ theo cam kết. Tháng 7, 8/2023, do cần tiền các khoản nợ cá nhân nên T đưa ra thông tin gian dối về việc làm dịch vụ rút tiền thẻ tín dụng và kêu gọi chị T2 chuyển tiền cho T cùng làm dịch vụ với mình nhằm hưởng lợi nhuận (phí dịch vụ rút tiền thẻ tín dụng); T tự nghĩ ra các giao dịch rút tiền thẻ tín dụng ghi vào sổ tay (tên ngân hàng, số tiền đầu tư nhân với %
phí = số tiền chuyển khoản trả lại) với nhiều mức phí khác nhau rồi chọn cho chị T2 mức phí cao, chụp ảnh gửi qua Zalo cho chị T2 để chị T2 chuyển tiền và chiếm đoạt, cụ thể: Ngày 04/8/2023, T tự tạo 02 giao dịch rút tiền thẻ tín dụng với số tiền 484.500.000 đồng và 436.500.000 đồng cùng mức lợi nhuận là 14.500.000 đồng và 13.500.000 đồng để gửi cho chị T2. Tin tưởng thông tin T đưa ra, chị T2 sử dụng tài khoản số 1133397979 thuộc ngân hàng T5 của mình chuyển khoản số tiền 484.500.000 đồng vào tài khoản 0201000734444 thuộc ngân hàng V1 và 436.500.000 đồng vào tài khoản số 9419255599 thuộc ngân hàng T5 mang tên Phùng Hà T, số tiền này T đã dùng để trả nợ cá nhân hết và không có khả năng trả lại tổng số tiền 921.000.000 đồng cho chị T2.
Đồng thời, quá trình làm việc tại Văn phòng Công ty cổ phần G, Phùng Hà T biết chị Đặng Thị T2 có nhu cầu mua USD để bán lại cho du học sinh làm thủ tục tại Công ty nên T đưa ra thông tin gian dối với chị T2 về việc T có nguồn ngoại tệ giá rẻ hơn thị trường và có thể mua với số lượng lớn. Sau đó, T tìm hiểu giá USD trên thị trường và báo cho chị T2 giá USD thấp hơn nên chị T2 tin tưởng chuyển tiền để nhờ T mua USD nhằm chiếm đoạt tiền của chị T2. Cụ thể, từ ngày 08/8/2023, muốn lấy được nhiều tiền mua USD từ chị T2 nên T báo giá USD là 22.450 đồng/USD thấp hơn giá thị trường là 23.802 đồng/USD và đề nghị chị T2 mua USD với số lượng nhiều hơn và phải luôn có số tiền dư tại T tương đương mua 100.000 USD/ngày. Tính đến ngày 15/8/2023, chị T2 chuyển cho T 3.659.350.000 đồng để mua 163.000 USD nhưng T đã sử dụng để trả nợ và chi tiêu cá nhân dẫn đến không còn khả năng mua USD trả cho chị T2 và T đưa ra thông tin gian dối là sàn ngoại tệ bị đóng băng nên không mua được USD nhưng cũng không trả lại 3.659.350.000 đồng cho chị T2.
Như vậy, Phùng Hà T đã lừa đảo chiếm đoạt của chị Đặng Thị T2 tổng số tiền 4.580.350.000 đồng, T đã trả lại cho chị T2 số tiền 215.000.000 đồng, Hiện nay, chị Đặng Thị T2 yêu cầu bị cáo Phùng Hà T bồi thường số tiền 4.365.350.000 đồng nhưng bị chưa bồi thường cho chị T2.
1.2. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 319.880.000 đồng của chị Trần Thị H (sinh năm 1992, trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh).
Tháng 4/2023, chị Trần Thị H được ngân hàng V cấp 01 thẻ tín dụng hạn mức 200.000.000 đồng và ngân hàng T5 cấp 01 thẻ tín dụng hạn mức 223.000.000 đồng. Do cần rút tiền từ các thẻ tín dụng nên chị H được chị Đặng Thị T2 giới thiệu liên hệ với Phùng Hà T để làm dịch vụ rút tiền thẻ tín dụng. Gặp chị H, T giới thiệu mình là nhân viên ngân hàng V, chuyên rút tiền thẻ tín dụng cho khách hàng,
mức phí từ 1,2% - 1,6%/lần. Sau đó, chị H nhiều lần đưa thẻ tín dụng nhờ T rút tiền và làm thủ tục đáo hạn; T thực hiện các giao dịch đúng thời hạn, đúng số tiền. Đến đầu tháng 8/2023, T cần tiền trả nợ cá nhân nên mặc dù thấy thẻ tín dụng T5 của chị H chưa đến hạn thanh toán (trước ngày 15 hàng tháng) với số tiền là 220.000.000 đồng nhưng T đã chủ động nói với chị H cần thanh toán sớm rồi có thể rút tiền ngay khi cần và cho chị H vay 70.000.000 đồng để chị H sử dụng thanh toán thẻ tín dụng (số tiền này chị H đã trả lại cho T sau đó) và T làm xong thủ tục thanh toán trong ngày 03/8/2023. Sau đó, cũng trong ngày 03/8/2023, T đến gặp chị Phan Thị H1 (sinh năm 1994, nhân viên hiệu vàng Minh C1 ở địa chỉ số E ngõ B đường N, thành phố H) và thực hiện 04 lần rút tiền từ thẻ tín dụng T5 của H (lần 1: 49.500.000 đồng; lần 2: 49.990.000 đồng; lần 3: 49.800.000 đồng; lần 40.710.000 đồng) với tổng số tiền 190.000.000 đồng và vay mượn của chị H1 thêm 60.000.000 đồng để chị H1 chuyển khoản số tiền 250.000.000 đồng vào tài khoản số 0201000734444 thuộc ngân hàng V1 mang tên Phùng Hà T. Sau khi nhận số tiền trên, T không trả lại tiền cho chị H mà dùng để chuyển khoản trả lại cho chị T2 số tiền 237.000.000 đồng (là số tiền chị T2 chuyển cho T để mua 10.000 USD nhưng T không mua và trả lại bằng tiền Việt Nam đồng), còn 13.000.000 đồng T đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Ngày 04/8/2023, T tiếp tục rút số tiền 29.990.000 đồng từ thẻ tín dụng T5 này của chị H để sử dụng chi tiêu cá nhân. Ngày 09/8/2023, do cần tiền nên chị Trần Thị H đưa thẻ tín dụng ngân hàng M của chồng là anh Nguyễn Hồng C2 (sinh năm 1989) có hạn mức 125.000.000 đồng cho T để rút 100.000.000 đồng. Cùng ngày, T đến hiệu vàng Minh C1 02 lần rút tiền từ thẻ tín dụng (lần 1: 49.900.000 đồng; lần 2: 49.990.000 đồng), chị Phan Thị H1 sau khi trừ phí rút tiền đã chuyển khoản số tiền 97.090.000 đồng vào tài khoản số 0201000734444 thuộc ngân hàng V1 mang tên Phùng Hà T. Số tiền này, T chuyển khoản 57.850.000 đồng trả nợ cho chị Võ Thị T3, còn lại T chuyển sang tài khoản ngân hàng V và T5 của mình và chi tiêu hết. Khi chị H yêu cầu T trả số tiền rút từ 02 thẻ tín dụng là 319.880.000 đồng thì T đưa ra thông tin gian dối là do hệ thống lỗi nên chưa rút được tiền nhưng thực tế T đã chiếm đoạt và không có khả năng trả lại tiền cho chị Trần Thị Hoài .
Như vậy, Phùng Hà T đã lừa đảo chiếm đoạt của chị Trần Thị H tổng số tiền 319.880.000 đồng, T đã trả lại cho chị H số tiền 35.000.000 đồng, Hiện nay, chị Trần Thị H yêu cầu bị cáo Phùng Hà T bồi thường số tiền 284.880.000 đồng nhưng bị cáo chưa bồi thường cho chị H.
* Vật chứng, tài sản, tài liệu đã thu giữ:
Thu giữ từ bị cáo Phùng Hà T: 01 sổ ghi chép màu nâu chuyển theo hồ sơ vụ án.
Với hành vi trên, tại bản cáo trạng số 64/CT-VKS-P2, ngày 06 tháng 9 năm
2024 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố Phùng Hà T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện VKS nhân dân tỉnh H sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, Điều 38, điểm n, s khoản 1; khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự:
* Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phùng Hà T phạm tội: "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
* Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phùng Hà T từ 14 (mười bốn) năm đến 15 (mười lăm) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
* Về dân sự: Đề nghị áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Phùng Hà T có nghĩa vụ bồi thường cho các bị hại số tiền 4.650.230.000 đồng (Bốn tỷ sáu trăm năm mươi triệu hai trăm ba mươi nghìn đồng), cụ thể: Bồi thường cho chị Đặng Thị T2 4.365.350.000 đồng; bồi thường cho chị Trần Thị H 284.880.000 đồng.
Tại phiên tòa bị cáo Phùng Hà T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ để giảm hình phạt cho bị cáo.
Luật sư bào chữa cho bị cáo bà Bùi Hoàng Linh C có quan điểm: Nhất trí với tội danh và Điều khoản mà Viện kiểm sát đề nghị. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét để giảm hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Xét về hành vi phạm tội của bị cáo:
[2.1] Tại phiên toà bị cáo Phùng Hà T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai có tại hồ sơ, phù hợp với lời khai của các bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và phù hợp
với các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định: Để có tiền tiêu xài và trả nợ cá nhân, từ tháng 7/2023 đến tháng 9/2023, bị cáo Phùng Hà T đã đưa ra các thông tin, thủ đoạn gian dối như: T là nhân viên ngân hàng V làm dịch vụ rút tiền thẻ tín dụng cho người có nhu cầu để hưởng lợi nhuận (phí dịch vụ rút tiền thẻ tín dụng) hoặc mua USD giá rẻ (thấp hơn giá thị trường) để lừa đảo chiếm đoạt tổng số tiền 4.900.230.000 đồng của 02 người bị hại, gồm: Chiếm đoạt của chị Đặng Thị T2, sinh năm 1982, trú tại tổ D, phường T, thành phố H số tiền 4.580.350.000 đồng; chiếm đoạt của chị Trần Thị H, sinh năm 1992, trú tại xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh số tiền 319.880.000 đồng. Bị cáo Phùng Hà T đã bồi thường cho chị Đặng Thị T2 số tiền 215.000.000 đồng, chị Trần Thị H số tiền 35.000.000 đồng. Hiện nay, bị hại chị Đặng Thị T2 yêu cầu bị cáo Phùng Hà T phải tiếp tục bồi thường số tiền 4.365.350.000 đồng; bị hại chị Trần Thị H yêu cầu bị cáo Phùng Hà T phải tiếp tục bồi thường số tiền 284.880.000 đồng nhưng bị cáo chưa bồi thường.
Hành vi dùng thủ đoạn gian dối, đưa ra thông tin sai sự thật để lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản của 02 bị hại với tổng số tiền 4.900.230.000 đồng của Phùng Hà T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Vì vậy, cáo trạng số 64/CT-VKS-P2, ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Phùng Hà T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, không oan sai.
[2.2] Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần, đã xâm phạm quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ, gây thiệt hại nặng nề về kinh tế đối với nhiều người, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Vì vậy, cần xét xử bị cáo mức án nghiêm, nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe chung đối với xã hội.
[2.3] Tuy nhiên, cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với Phùng Hà T, quá trình điều tra, truy tố bị cáo đang mang thai; bị cáo thành khẩn khai báo; tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm n, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa đề nghị xử phạt bị cáo Phùng Hà T từ 14 (mười bốn) năm đến 15(mười lăm) năm tù là phù hợp.
[3] Về những hành vi, nội dung khác liên quan trong vụ án:
- Để chị Đặng Thị T2 tin tưởng chuyển tiền làm dịch vụ rút tiền thẻ tín dụng, Phùng Hà T đưa ra các thông tin, thủ đoạn gian dối như tự tạo thông tin giao dịch rút tiền với mức phí cao (từ 1,5%, 2,0%, 2,5%, 2,7%, 3%/số tiền một lần giao dịch/01-02 ngày) để chị T2 thu lợi nhuận cao hơn lãi suất cho phép (100%/năm) từ 400% đến 900% nhưng đây là thủ đoạn của T nhằm lừa đảo chiếm đoạt tiền của chị T2. Việc chị T2 chuyển tiền cho T là do tin tưởng các thông tin gian dối của T để cùng góp tiền thực hiện dịch vụ rút tiền thẻ tín dụng và hưởng lợi nhuận từ phí rút tiền chứ không nhằm mục đích cho T vay để lấy tiền lãi. Do đó, không có căn cứ xem xét trách nhiệm đối với chị Đặng Thị T2 về hành vi “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” là có căn cứ.
+ Đối với chị Võ Thị T3 và Nguyễn Thị B1: Sao kê tài khoản ngân hàng phản ánh số tiền chiếm đoạt từ bị hại Đặng Thị T2 có một phần được chuyển vào tài khoản của chị T3 và chị B1. Quá trình điều tra đã làm rõ bị cáo Phùng Hà T đang nợ tiền 02 người này và 02 người này không biết nguồn gốc số tiền T chuyển trả cho họ là tiền do T lừa đảo chiếm đoạt mà có. Do đó, không có căn cứ xử lý trách nhiệm đối với chị Võ Thị T3 và chị Nguyễn Thị B1 là có căn cứ.
[4] Về trách nhiệm bồi thường dân sự:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo Phùng Hà T đã lừa đảo chiếm đoạt của 02 bị hại, với tổng số tiền 4.900.230.000 đồng (Bốn tỷ chín trăm triệu hai trăm mươi nghìn đồng), gồm chị Đặng Thị T2 số tiền 4.580.350.000 đồng; chiếm đoạt của chị Trần Thị H số tiền 319.880.000 đồng; đến thời điểm xét xử bị cáo đã bồi thường được cho các bị hại 250.000.000 đồng, gồm: Chị Đặng Thị T2 số tiền 215.000.000 đồng, chị Trần Thị H số tiền 35.000.000 đồng.
Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc bị cáo Phùng Hà T có nghĩa vụ bồi thường toàn bộ số tiền chiếm đoạt từ các bị hại chưa được bồi thường, cụ thể: Bồi thường cho chị Đặng Thị T2 4.365.350.000 đồng; bồi thường cho chị Trần Thị H 284.880.000 đồng.
[5] Về vật chứng: 01 sổ ghi chép màu nâu thu giữ từ bị cáo tiếp tục lưu cùng hồ sơ vụ án.
[6] Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của U, bị cáo Phùng Hà T phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, Điều 38, điểm n, s khoản 1; khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; các Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự, Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1, khoản 3 Điều 21, điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án và Danh mục án phí, lệ phí tòa án kèm theo Pháp lệnh 326/2016/UBTVQH14:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phùng Hà T phạm tội: "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phùng Hà T 15 (mười lăm) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
-
Về dân sự: Buộc bị cáo Phùng Hà T có nghĩa vụ bồi thường cho các bị hại số tiền 4.650.230.000 đồng (Bốn tỷ sáu trăm năm mươi triệu hai trăm ba mươi nghìn đồng), cụ thể: Bồi thường cho chị Đặng Thị T2, sinh năm 1982, trú tại tổ D, phường T, thành phố H 4.365.350.000 đồng (bốn tỷ ba trăm sáu mươi lăm triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng); bồi thường cho chị Trần Thị H, sinh năm 1992, trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh 284.880.000 đồng (hai trăm tám mươi bốn triệu tám trăm tám mươi nghìn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Sau khi án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì phải chịu trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
-
Về xử lý vật chứng:
- Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án: 01 sổ ghi chép màu nâu thu giữa từ bị cáo Phùng Hà T
- Về án phí: Buộc bị cáo Phùng Hà T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 112.650.230 đồng (Mội trăm mười hai triệu sáu trăm năm mươi nghìn hai trăm ba mươi đồng) án phí dân sự bồi thường.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thương Huyền |
Bản án số 74/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 74/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng tháng 3/2023, Phùng Hà Trang đến Văn phòng Công ty giáo dục EZ hoạt động về tư vấn du học (tại số 96 đường 26/3, thành phố Hà Tĩnh của ông Nguyễn Bá Thắng trú tại Hoàng Mai, Hà Nội) và gặp chị Đặng Thị Thắng- là nhân viên văn phòng, Trang tự giới thiệu là nhân viên ngân hàng VPBank chuyên rút tiền thẻ tín dụng cho người có nhu cầu và xin làm cộng tác viên (tìm kiếm, giới thiệu khách hàng có nhu cầu đi du học) cho Văn phòng Công ty, chị Thắng đồng ý. Quá trình này, chị Thắng đưa thẻ tín dụng của mình và một số người nhờ Trang rút tiền thẻ tín dụng và Trang thực hiện đúng yêu cầu. Đến tháng 7, 8/2023, Trang đang nợ tiền của một số người đến hạn phải trả nên Trang đã đưa ra thông tin gian dối về việc làm dịch vụ rút tiền thẻ tín dụng cho nhiều người hoặc mua ngoại tệ giá rẻ để lấy tiền trả nợ và chi tiêu cá nhân dẫn đến mất khả năng trả lại tiền cho họ,
