|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG Bản án số: 74/2024/HS-ST Ngày 30-09-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quân.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Minh Phương và ông Nguyễn Văn Tuân
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Khoa- Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Nhà văn hóa khu L4, thị trấn T, huyện T. Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 61/2024/HSST ngày 12/8/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 03/2024/TB-TA ngày 28/9/2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm 1986; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương; trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Xuân T1 và bà Nguyễn Thị Hồng T2; có chồng là Ngô Văn S và 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không;
- Bùi Thị D, sinh năm 1980; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn T, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; trình độ văn hoá: 05/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Nguyên C và bà Bùi Thị D1; có chồng là Phạm Minh T3 và bốn con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không;
- Vũ Quang T4, sinh năm 1999; Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã Q, huyện T, tỉnh Hải Dương; trình độ văn hoá: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vũ Quang L và bà Vũ Thị N; có vợ là Hoàng Thị N1 và 02 con lớn sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không;
- Nguyễn Văn T5, sinh năm 1993; Nơi ĐKHKTT: Khu L, TT T, huyện T, tỉnh Hải Dương; trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn L1 và bà Nguyễn Thị T6; có vợ là Nguyễn Thị Vân A và 01 con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không;
- Nguyễn Đức P, sinh năm 2001; Nơi ĐKHKTT: Thôn A, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương; trình độ văn hoá: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Đức P1 và bà Nguyễn Thị N2; có vợ là Nguyễn Thị D2 và 01 con sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo tại ngoại, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
Bị cáo tại ngoại, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
Bị cáo tại ngoại, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
Bị cáo tại ngoại, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
Bị cáo tại ngoại, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
- Bị hại: Công ty TNHH M2; địa chỉ: thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương. Người đại diện theo pháp luật: Ông HWANG KYOUNG YEUN- Giám đốc.
- Người đại diện theo ủy quyền:
- + Bà Đặng Thị T7, sinh năm 1984; địa chỉ: thôn L, xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương;
- + Bà Trần Thị Thùy T8, sinh năm 1999; địa chỉ: thôn M, xã M, huyện T, tỉnh Hải Dương;
- + Bà Nguyễn Thị Minh H, sinh năm 1991; địa chỉ: thôn M, xã M, huyện T, tỉnh Hải Dương;
- Người làm chứng:
- + Anh Nguyễn Văn L2, sinh năm 1989;
- + Anh Ngô Văn S, sinh năm 1986;
- + Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1978;
- + Chị Nguyễn Thị L3, sinh năm 1978;
- + Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 2001;
- + Chị Đoàn Thị Đ, sinh năm 1981;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty TNHH M2 (Gọi tắt là Công ty M2), có ngành nghề kinh doanh chính là may trang phục. Ngày 01/10/2020, T8 được Công ty bổ nhiệm chức danh Tổ trưởng kho nguyên phụ liệu và được giao nhiệm vụ quản lý chịu trách nhiệm toàn bộ hoạt động xuất nhập hàng, bảo quản hàng hóa trong kho và các tài sản phục vụ công việc của bộ phận. Ngày 27/4/2021, Công ty M2 nhập khẩu 640 kg lông ngỗng các loại 80% (màu xám) 600, đã qua xử lý, mới 100% từ Công ty Y, Hàn Quốc và nhập vào kho nguyên phụ liệu để phục vụ sản xuất may trang phục. Quá trình sử dụng, bộ phận kho đã xuất 471 kg nguyên liệu lông vũ cho các đơn vị gia công và các bộ phận sản xuất, còn lại là 169 kg, được đựng trong 03 bao dứa màu hồng đặt trong kho nguyên liệu tồn của Công ty. Quá trình làm việc, T8 quen biết với Bùi Thị D là người môi giới đơn hàng gia công giữa Công ty M2 với Công ty Cổ phần T10, địa chỉ: Khu A, cụm C, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình. D thường xuyên hỏi và bảo T8 nếu có nguyên phụ liệu lấy được từ Công ty M2 chuyển ra ngoài thì bảo D để D mang đi tiêu thụ.
Ngày 14/9/2023, kho nguyên liệu của Công ty M2 bị cháy, quá trình chữa cháy làm số lông vũ bị ướt nên được vận chuyển về khu vực bãi rác gần kho nguyên liệu để xử lý. Giám đốc Công ty giao cho T8 cùng Nguyễn Văn T5 là Tổ trưởng tổ đóng gói, Vũ Quang T4 công nhân kho nguyên liệu và Nguyễn Đức P công nhân tổ đóng gói của Công ty tiến hành xử lý, san nguyên liệu lông vũ từ bao dứa màu hồng sang bao tải nhỏ hơn, nguyên liệu bị hỏng thì vất ra bãi rác còn lại thì cho vào kho sấy để chuyển kho cất giữ. Lúc này, T8 nảy sinh ý định chiếm đoạt một phần số nguyên liệu lông vũ trên của Công ty để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân nên nói với T5, T4, P: “Để cho chị xử lý chỗ này, có gì chị chia cho mọi người”. T5, T4, P đều hiểu ý là T8 sẽ lấy trộm một phần nguyên liệu lông vũ để bán và T8 sẽ chia tiền cho mọi người, nên đã đồng ý và tiếp tục san lông vũ vào các bao tải nhỏ hơn (trong đó có 07 bao dứa mầu vàng do T8 bảo T4 đi mua), rồi vận chuyển vào kho sấy để sấy khô. Tối cùng ngày, T8 gọi điện qua ứng dụng Messenger nói cho D biết việc sẽ lấy trộm lông vũ của Công ty và nhờ D tiêu thụ, thì D đồng ý.
Sáng ngày 15/9/2023, chị Trần Thị Thùy T8, là phiên dịch viên của Công ty M2 bảo T8 liên lạc với anh Nguyễn Văn L2 (anh trai của T5) là lái xe tải đến để vận chuyển rác ra khỏi Công ty. T8 bảo T5: “Gọi hộ chị xe của L2 để chị chuyển mấy bao hàng”, T5 hiểu ý T8 muốn chuyển số lông vũ mà T5 cùng T8, P, T4 đã đóng vào 07 bao rứa màu vàng hôm trước ra khỏi Công ty để bán kiếm lời. T5 gọi điện cho anh L2 thì anh L2 nói đang chuẩn bị về huyện T. Sau đó, T8 gọi cho anh L2 nhờ anh L2 vận chuyển đồ ra ngoài,anh L2 đồng ý (L2 không biết đồ vận chuyển ra ngoài là lông vũ mà T8 lấy trộm của công ty). Sau đó, T8 bảo chị Đoàn Thị Đ là công nhân kho cùng T8 vận chuyển 07 bao dứa màu vàng chứa lông vũ đã sấy khô được đóng gói từ kho sấy ra khu vực gần kho nguyên liệu (chị Đ không biết T8 có mục đích lấy trộm các bao lông vũ này). Khi xe anh L2 đến, T8 bảo T4 vận chuyển 07 bao dứa màu vàng chứa lông vũ lên thùng xe tải của anh L2 thì một số công nhân đi qua cũng vào phụ giúp đưa lên xe. T8 bảo anh L2 chở về nhà rồi cho người đến lấy sau. Anh L2 chở 07 bao rứa chứa lông vũ về nhà ở thị trấn T. Sau đó, T8 gọi, nhắn tin qua ứng dụng M1 nói cho D biết đã chuyển được lông vũ ra ngoài và nhắn cho D số điện thoại kèm tên và địa chỉ của anh L2. D liên lạc với anh L2 xin địa chỉ và thuê xe tải của một người không quen biết ở tỉnh Thái Bình đi sang huyện T gặp anh L2 nhận 07 bao lông vũ và vận chuyển sang khu vực thành phố N, tỉnh Nam Định bán cho người đàn ông, không quen biết tên là H1 07 bao chứa lông vũ có tổng khối lượng 69kg được 56.000.000 đồng. H1 trả D 6.000.000 đồng tiền mặt và xin thông tin số tài khoản của D để chuyển khoản 50.000.000 đồng. Sau đó, H1 kết bạn qua ứng dụng Z với D rồi D nhắn cho H1 số tài khoản 0904479766 mở tại ngân hàng TMCP Q (M3) của D. Đến hôm sau, tài khoản trên của D nhận được số tiền 50.000.000 đồng từ số tài khoản 7628081178 mở tại ngân hàng TMCP K (Chủ tài khoản là Nguyễn Văn M, sinh năm 1978, trú tại: Số A N, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định) thì D biết đó là tiền H1 trả mua lông vũ.
Sáng ngày 16/9/2023, D trao đổi với T8 07 bao nguyên liệu lông vũ cân được 69 kg với mức giá 780.000 đồng/01 kg, bán được tổng số tiền là 53.820.000 đồng. T8 nhắn số tài khoản 35501246990... mở tại Ngân hàng M3 của chồng là anh Ngô Văn S để D chuyển tiền bán lông vũ. D chuyển 53.820.000 đồng vào số tài khoản trên làm 02 đợt: Đợt 1, D sử dụng tài khoản 0904479766 mở tại M3 của D chuyển 50.000.000 đồng; đợt 2, D sử dụng tài khoản 1019169229 mở tại Ngân hàng TMCP N3 (V1) của D chuyển 3.820.000 đồng, D giữ lại 2.180.000 đồng chi tiêu cá nhân. T8 nói với anh S là có người chuyển tiền cho T8 để giải quyết việc riêng nên anh S đã chuyển lại số tiền trên đến số tài khoản 2312205281... của T8 mở tại Ngân hàng N4 (A1). Sau đó, T8 đã chuyển cho T5 4.000.000 đồng, trong đó T5 được hưởng là 2.000.000 đồng, còn 2.000.000 đồng T8 nhờ T5 chuyển cho anh L2 trả tiền công chở hàng; chuyển khoản cho T4 2.000.000 đồng; đưa 500.000 đồng tiền mặt cho T5 nhờ T5 chuyển cho P; T8 gửi cho D 2.000.000 đồng kèm theo gói quà là 02 hộp nước yến trị giá 1.000.000 đồng. Khoảng 1 tuần sau, do xích mích trong công việc T5 đã chuyển khoản trả lại cho T8 2.000.000 đồng. Toàn bộ số tiền có được từ việc bán nguyên liệu lông vũ, các đối tượng đã chi tiêu cá nhân hết. Đến ngày 26/11/2023, Công ty M2 phát hiện bị mất tài sản đã trình báo Công an huyện T.
* Bản kết luận định giá số 29/KL-ĐGTS ngày 18/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện T kết luận:69kg nguyên liệu lông vũ là lông ngỗng các loại 80% (màu xám) 600, đã qua xử lý, sử dụng trực tiếp làm nguyên phụ liệu may mặc, mới 100%. Số lông vũ trên xuất xứ tại Trung Quốc và được nhập khẩu từ Công ty Y, quốc gia Hàn Quốc ngày 27/4/2021, với giá 1.218.205 đồng/01kg. Tại thời điểm định giá ngày 15/9/2023, tổng giá trị tài sản cần định giá có giá trị là 870.000 đồng/1kg, vậy 69kg nguyên liệu lông vũ có giá 60.030.000 đồng(Sáu mươi triệu, không trăm ba mươi nghìn đồng)
Tại bản Cáo trạng số 64/CT-VKSTK ngày 09/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Thùy T, Bùi Thị D, Vũ Quang T4, Nguyễn Văn T5, Nguyễn Đức P về tội “Tham ô tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 353 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà: VKSND huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 353, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58; khoản 1 và khoản 2 Điều 65 BLHS đối với các bị cáo.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Thùy T, Bùi Thị D, Vũ Quang T4, Nguyễn Văn T5, Nguyễn Đức P phạm tội “Tham ô tài sản”;
- + Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thùy T từ 33 đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- + Xử phạt bị cáo Bùi Thị D từ 30 đến 33 tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- + Xử phạt các bị cáo Vũ Quang T4, Nguyễn Văn T5, Nguyễn Đức P mỗi bị cáo từ 27 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 54 đến 60 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 47 của BLHS; điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của BLTTHS. Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước 01 Điện thoại Oppo Reno 4G, vỏ màu đen của Nguyễn Thị Thùy T; 01 điện thoại Oppo A92, vỏ màu xanh của Bùi Thị D. Tịch thu tiêu hủy 01 sim số 0978.913..... của Nguyễn Thị Thùy T và 02 sim số 0867.444.... và 0346.419.... của Bùi Thị D; Trả lại Nguyễn Văn T5 01 điện thoại Samsung Galaxy A05, vỏ màu xanh đen, lắp sim số 0372.944....; Vũ Quang T4 01 điện thoại Iphone 11 Pro Max, màu xanh dung lượng 256Gb, lắp sim số 0985.880....; Nguyễn Đức P 01 điện thoại Iphone 8 Plus, vỏ màu vàng, lắp sim số 0862.569....;
Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Thị Thùy T, Bùi Thị D, Vũ Quang T4, Nguyễn Văn T5, Nguyễn Đức P, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, công nhận quyết định truy tố và luận tội của VKSND huyện Tứ Kỳ đối với các bị cáo là đúng và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo;
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
- [2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản vụ việc, vật chứng thu giữ, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Với chức vụ là tổ trường kho nguyên phụ liệu của Công ty, được giao quản lý chịu trách nhiệm toàn bộ hoạt động xuất nhập hàng, bảo quản và xử lý phân loại nguyên liệu là lông vũ. Trong quá trình làm việc, T đã thống nhất với Bùi Thị D nếu lấy được nguyên phụ liệu của Công ty TNHH M2 thì D sẽ nhận mang đi tiêu thụ cho T. Ngày 14/9/2023, lợi dụng việc kho nguyên liệu bị cháy và được công ty giao xử lý phân loại nguyên liệu là lông vũ, Nguyễn Thị Thùy T đã cùng Nguyễn Văn T5- tổ trưởng tổ đóng gói, Vũ Quang T4- công nhân kho nguyên liệu và Nguyễn Đức P- công nhân tổ đóng gói đã lấy 69 kg lông vũ cho vào 07 bao dứa mầu vàng của Công ty. Đến khoảng 09 giờ ngày 15/9/2023, T, T4, T5, P đã chiếm đoạt 69kg lông vũ và chuyển cho Bùi Thị D đem đi bán được số tiền 56.000.000 đồng. D chuyển lại cho T 53.820.000 đồng và giữ lại 2.180.000 đồng. T đã chia cho T4 2.000.000 đồng, cho P 500.000 đồng, cho T5 2.000.000 đồng, cho D 2.000.000 đồng cùng 01 gói quà trị giá 1.000.000 đồng. Bị cáo T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và là tổ trưởng kho nguyên phụ liệu, nhưng bị cáo đã lợi dụng chức vụ được giao, cùng với D, T5, T4, T9 chiếm đoạt 69 kg lông vũ với tổng giá trị 60.030.000 đồng của Công ty TNHH M2. Hành vi của các bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 353 BLHS. như Quyết định truy tố của VKSND huyện Tứ Kỳ đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
- [3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của doanh nghiệp được pháp luật bảo vệ mà còn xâm phạm đến hoạt động kinh doanh, mất uy tín của doanh nghiệp. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý theo quy định của pháp luật.
- [4] Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, không có sự câu kết chặt chẽ, nhưng cũng cần đánh giá vị trí, vai trò của từng bị cáo trong vụ án để có mức hình phạt tương xứng, trong đó: Trước khi lấy được số lông vũ trên, Nguyễn Thị Thùy T đã thống nhất với D nếu lấy được tài sản thì sẽ gọi bảo D mang đi bán hộ, là người khởi xướng việc lấy số lông vũ trên và trực tiếp lấy mang đi, được hưởng lợi số tiền nhiều nhất nên T giữ vai trò chính. D là người biết T làm tổ trưởng kho nguyên phụ liệu có thể lấy được nguyên liệu nên đã chủ động đề xuất khi nào lấy được báo cho D biết, sau khi T báo đã lấy được số lông vũ, D chủ động thuê xe sang lấy và mang đi bán, được hưởng lợi sau T nên bị cáo giữ vai trò thứ hai. Các bị cáo T5, T4, P đều biết trang là tổ trưởng kho nguyên phụ liệu, chỉ có T mới có thẩm quyền xử lý nguyên phụ liệu và quản lý. Khi T đề xuất lấy số lông vũ trên để bán và chia tiền cho thì T5, T4, P đều nhất trí và giúp T đóng bao, vận chuyển ra xe mang đi nên các bị cáo giữ vai trò đồng phạm giúp sức.
- [5] Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Sau khi phạm tội, các bị cáo đã cùng nhau bồi thường khắc phục hậu quả và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS; bị cáo T có bố đẻ tham gia kháng chiến được tặng thưởng huân chương chiến công, có chồng là anh Ngô Văn S được tặng huy chương chiến sĩ vẻ vang, bị cáo D có bố đẻ là ông Bùi Nguyên C được tặng thưởng huy chương kháng chiến hàng nhì nên hai bị cáo T, D được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS; vì vậy, HĐXX sẽ xem xét khi lượng hình với các bị cáo cho phù hợp.
- [6] Xét các bị cáo đều là người có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, các bị cáo đều có nơi cư trú ổn định. Vì vậy chỉ cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo, giao các bị cáo về cho chính quyền địa phương quản lý, giám sát trong thời gian được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành người tốt và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên bị cáo T giữ vai trò đầu vụ nên mức hình phạt của bị cáo phải cao nhất, bị cáo D giữ vai trò thứ hai nên mức hình phạt của bị cáo D thấp hơn bị cáo T; bị cáo T5, T4 đều hưởng lợi như nhau thấp hơn D nên có mức hình phạt phù hợp tiếp theo; bị cáo P đồng phạm, được hưởng số tiền ít nhất nên mức hình phạt của P thấp hơn sau bị cáo T5, T4 mới đảm bảo lẽ công bằng.
- [7] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo đều là công nhân lao động, hoàn cảnh khó khăn, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.
- [8] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã chiếm đoạt tổng số 69kg lông vũ, trị giá 60.030.000 đồng. Quá trình điều tra, các bị cáo T, D, T5, T4, P đã bồi thường cho Công ty TNHH M2 (trong đó T bồi thường 47.900.000 đồng, D bồi thường 5.200.000 đồng; T5 bồi thường 3.000.000 đồng; T4 bồi thường 3.000.000 đồng; Phiêu 1.500.000 đồng). Đại diện Công ty TNHH M2 đã nhận đủ số tiền 60.600.000 đồng và không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thêm về dân sự nên không Hội đồng xét xử không phải giải quyết.
- [9] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại Oppo Reno 4G của Nguyễn Thị Thùy T; 01 điện thoại Oppo A92 của Bùi Thị D là công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu phát mại nộp vào ngân sách Nhà nước. Đối với 01 sim điện thoại số 0978.913..... của Nguyễn Thị Thùy T; 02 sim số 0867.444.... và 0346.419.... của Bùi Thị D sử dụng vào việc phạm tội không còn giá trị nên cần tịch thu cho tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại Samsung Galaxy A05, vỏ màu xanh đen, lắp sim số 0372.944.... của Nguyễn Văn T5; 01 điện thoại Iphone 11 Pro Max, màu xanh dung lượng 256Gb, lắp sim số 0985.880.... của Vũ Quang T4; 01 điện thoại Iphone 8 Plus, vỏ màu vàng, lắp sim số 0862.569.... của Nguyễn Đức P không liên quan trực tiếp đến việc phạm tội nên cần trả lại cho các bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 47 của BLHS; điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của BLTTHS.
- [10] Đối với anh Nguyễn Văn L2 chở 07 bao dứa mầu vàng chứa lông vũ ra khỏi công ty không biết đây là tài sản do T phạm tội mà có; Anh Nguyễn Văn M khi được nhờ chuyển tiền sang tài khoản của D không biết là trả tiền mua tài sản do phạm tội mà có. Anh Ngô Văn S không biết tiền D chuyển vào tài khoản của mình do phạm tội mà có nên không phải chịu trách nhiệm.
- [11] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Thị Thùy T, Bùi Thị D, Vũ Quang T4, Nguyễn Văn T5, Nguyễn Đức P phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về ...án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 353, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58; khoản 1 và khoản 2 Điều 65 BLHS đối với các bị cáo;
- Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị Thùy T, Bùi Thị D, Vũ Quang T4, Nguyễn Văn T5, Nguyễn Đức P phạm tội “Tham ô tài sản”;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thùy T 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Xử phạt bị cáo Bùi Thị D 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Xử phạt bị cáo Vũ Quang T4 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T5 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức P 02 (Hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (Bốn) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Về xử lý vật chứng:
- Về án phí:
- Về quyền kháng cáo:
Giao các bị cáo Nguyễn Thị Thùy T cho UBND xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương, bị cáo Bùi Thị D cho UBND xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; bị cáo Vũ Quang T4 cho UBND xã Q, huyện T, tỉnh Hải Dương; bị cáo Nguyễn Văn T5 cho UBND thị trấn T, huyện T, tỉnh Hải Dương; bị cáo Nguyễn Đức P cho UBND xã C, huyện T, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 47 của BLHS; điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của BLTTHS. Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước 01 Điện thoại Oppo Reno 4G, vỏ màu đen của Nguyễn Thị Thùy T; 01 điện thoại Oppo A92, vỏ màu xanh của Bùi Thị D. Tịch thu tiêu hủy 01 sim số 0978.913..... của Nguyễn Thị Thùy T và 02 sim số 0867.444.... và 0346.419.... của Bùi Thị D; Trả lại Nguyễn Văn T5 01 điện thoại Samsung Galaxy A05, vỏ màu xanh đen, lắp sim số 0372.944....; Vũ Quang T4 01 điện thoại Iphone 11 Pro Max, màu xanh dung lượng 256Gb, lắp sim số 0985.880....; Nguyễn Đức P 01 điện thoại Iphone 8 Plus, vỏ màu vàng, lắp sim số 0862.569.... (các điện thoại đều cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng máy)
(Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ, tình trạng, đặc điểm theo biên bản giao nhận giữa Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ ngày 26-09-2024).
Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về ... án phí và lệ phí Toà án đối với các bị cáo. Các bị cáo Nguyễn Thị Thùy T, Bùi Thị D, Vũ Quang T4, Nguyễn Văn T5, Nguyễn Đức P, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Áp dụng Điều 331, Điều 333 BLTTHS. Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nguyễn Văn Quân |
Bản án số 74/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG về tham ô tài sản (criminal case)
- Số bản án: 74/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T được bổ nhiệm tổ trưởng kho nguyên phụ liệu Công ty may B. D biết T giữ chức vụ đó và thỏa thuận nếu lấy được tài sản thì D sẽ nhận mang đi tiêu thụ. Ngày 14/9/2023, lợi dụng việc kho bị cháy và được công ty giao xử lý phân loại nguyên liệu là lông vũ, T đã cùng T- tổ trưởng tổ đóng gói, T2- công nhân kho nguyên liệu và Nguyễn Đức P- công nhân tổ đóng gói đã lấy 69 kg lông vũ trị giá 56.000.000 đồng thì bị phát hiện
