Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2024/HS-ST

Ngày : 27 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Hoà.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Trung Thành – Cán bộ Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Châu Phú.
  2. Ông Nguyễn Văn Giữ - Chủ tịch Hội khuyến học huyện Châu Phú.

Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Mỹ Tiên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa:

Ông Huỳnh Thanh Thuận - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 65/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Thanh Tuấn, sinh ngày 20 tháng 12 năm 1991 tại thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Khóm Châu Thạnh, phường Châu Phú A, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Đạo Cao đài; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Phước Hải và bà Võ Thị Sạn; Anh em ruột có 03 người bị cáo là người thứ nhất; Vợ Trần Thị Kim Thoa, sinh năm 1993; Con có 01 người sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang bị tạm giam từ ngày 26/6/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Châu Phú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Những người tham gia tố tụng:

  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phan Anh Tuấn, sinh năm 1972. Địa chỉ: Ấp Long Thành, xã Hòa Long, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
  2. Người làm chứng: Bà Trần Thị Kim Thoa, sinh năm 1993.
  3. Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn Ngọt, sinh năm 1969.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 26/6/2024, nhận được tố giác về tội phạm của quần chúng nhân dân, tại nhà của Lê Thanh Tuấn thuộc ấp Bờ Dâu, xã Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú có nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an huyện Châu Phú phối hợp Công an xã Thạnh Mỹ Tây tiến hành kiểm tra, phát hiện ở cạnh vách tol trong phòng ngủ của Tuấn có 02 bọc nilon trong suốt một đầu có rãnh khóa và một đầu được bấm ghim, bên trong chứa tinh thể màu trắng. Qua làm việc, Tuấn khai nhận 01 bọc nilon có rãnh khóa bên trong phòng ngủ là ma túy đá mua của một người đàn ông tên Hiếu (không rõ họ tên, địa chỉ) tại khu vực thị xã Tịnh Biên với giá 2.000.000đ (Hai triệu đồng) mang về nhà sử dụng, số còn lại Tuấn cất giấu để tiếp tục sử dụng. Còn 01 bọc nilon trong suốt một đầu được bấm ghim trên vách tol đối diện với phòng ngủ của Tuấn không phải là ma túy, là thuốc Tuấn dùng để tẩy rửa, diệt khuẩn sàn nhà, lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng.

- Ông Phan Anh Tuấn trình bày: Xe mô tô biển số 66P2-016.39, Tuấn mua vào năm 2004, đến năm 2020 đã bán lại cho một người tên Tùng (không rõ địa chỉ), Tuấn không có yêu cầu gì.

- Trần Thị Kim Thoa, Nguyễn Văn Ngọt trình bày phù hợp với nội dung của vụ án.

Kết luận giám định số 868/KL-KTHS ngày 03/7/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang, kết luận: 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Phú, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi họ tên Lê Minh Hùng, Phạm Văn Tài, Lê Thanh Tuấn. Bên trong có: 01 (một) bọc nilon trong suốt có rãnh khoá viền trắng chứa tinh thể màu trắng, khối lượng 2,4463 gam (Hai phẩy bốn bốn sáu ba gam) (ký hiệu M1); 01 (một) bọc nilon trong suốt có bấm ghim bằng kim loại chứa chất bột màu trắng, khối lượng 11,0678 gam (Mười một phẩy không sáu bảy tám gam) (ký hiệu M2); Mẫu M1 gửi đến giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, có khối lượng 2,4463 gam (Hai phẩy bốn bốn sáu ba gam); Mẫu M2 gửi đến giám định không đủ điều kiện phương tiện để kết luận (do máy sắc ký khí khối phổ bị hư).

Kết luận giám định số 4637/KL-KTHS ngày 16/8/2024 của Phân Viện KHHS tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: 01 bì thư được niêm phong vụ 868/KL-KTHS, ngày 03/7/2024 có các chữ ký ghi tên Nguyễn Duy Minh, Nguyễn Đăng Khoa và hình dấu tròn màu đỏ của cơ quan CSĐT Công an huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, trong đó có 01 gói nilon (ký hiệu M2) chứa tinh thể màu trắng. Mẫu tinh thể màu trắng đựng trong 01 gói nilon (ký hiệu M2), gửi giám định không tìm thấy thành phần các chất ma túy theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ.

Kết luận giám định số 916/KL-KTHS ngày 06/8/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang, kết luận: Xe mô tô mang biển số 66P2-016.39 gửi giám định có số khung, số máy bị cắt hàn.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Châu Phú: 02 bọc nilon gồm: 01 bọc nilon trong suốt một đầu có rãnh khóa và 01 bọc nilon trong suốt một đầu được bấm ghim bên trong đều chứa chất nghi là ma túy được niêm phong trong phong bì; 01 dụng cụ tự chế dùng để sử dụng ma túy; 01 xe mô tô biển số 66P2-016.39; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 66P2-016.39 do Phan Anh Tuấn đứng tên sở hữu.

Tại bản Cáo trạng số: 66/CT-VKS.CP ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Lê Thanh Tuấn về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung nêu trên. Ngoài ra bị cáo còn khai nhận, bị cáo sử dụng ma túy ngày khoảng 2 đến 3 lần, đợt mua lần này đã sử dụng được khoảng 4 đến 5 lần. Trước đó bị cáo có mua một lần với số tiền 500.000₫ đã sử dụng hết. Xe mô tô biển số 66P2-016.39 của bị cáo mua của người lạ không có làm giấy tờ mua bán, bị cáo sử dụng xe để đi mua ma túy về sử dụng, bị cáo không có ý kiến, yêu cầu đối với xe. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú luận tội đối với bị cáo: Giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

  • - Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt: Bị cáo Lê Thanh Tuấn từ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 03 (Ba) năm tù.
  • - Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung.
  • - Về xử lý vật chứng đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • + Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) dụng cụ tự chế dùng để sử dụng ma túy;; 01 (một) phong bì được niêm phong (Vụ số: 868/KL-KTHS ngày 03/7/2024) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Phú, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Duy Minh, Nguyễn Đăng Khoa, bên trong có mẫu vật còn lại sau giám định là ma túy, loại Phethamphetamine, có khối lượng: 2,3680g (Hai phẩy ba sáu tám không gam); 01 (Một) phong bì được niêm phong; 01 (một) phong bì được niêm phong (Vụ số: 4637/KL-KTHS ngày 16/8/2024) của Phân viện kỹ thuật hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh (C09B) có các chữ ký ghi tên Nguyễn Phước Ninh (người chứng kiến), Nguyễn Hồng Tý (người niêm phong), trong có mẫu có mẫu vật còn lại sau giám định.
  • + Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô biển số 66P2-01639, số máy NZ110ME0077335, số khung: NZ110M0077335 (qua sử dụng chưa kiểm tra chất lượng bên trong); 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 66P2-016.39 do Phan Anh Tuấn đứng tên sở hữu.

Bị cáo không bào chữa, tranh luận, thừa nhận hành vi vi phạm, xin giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết mình sai, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều phù hợp.

- Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người chứng kiến vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung vụ án:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Lê Thanh Tuấn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do phạm tội gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 26/6/2024 Lê Thanh Tuấn đã có hành vi tàng trữ trái phép 2,4463g (Hai phẩy bốn bốn sáu ba gam) Methamphetamine là chất ma túy để sử dụng.

Thấy rằng, bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo đã tàng trữ 2,4463 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng. Hành vi của bị cáo là cố ý trực tiếp; đã xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) ...;

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

2. ...;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”.

[3] Các tình tiết tăng năng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra, xét thấy bị cáo có con nhỏ cần có sự nuôi dưỡng và chăm sóc. Do đó, HĐXX áp dụng tình tiết này là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hiện nay tình trạng tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý diễn ra nhiều trên địa bàn. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác, xâm phạm đến quyền lợi ích hợp pháp của người dân, làm mất an ninh trật tự của địa phương, gây hoang mang dư luận. Bị cáo là thanh niên khoẻ mạnh không cố gắng lao động nuôi sống bản thân, giúp đỡ gia đình mà lại sử dụng ma tuý để thoả mãn cơn nghiện. Ma tuý không những gây ảo giác, tổn hại sức khoẻ cho bản thân người sử dụng mà còn ảnh hưởng đến thể chất cho thế hệ mai sau, làm tăng gánh nặng cho gia đình, xã hội và Nhà nước. Định lượng ma túy bị cáo mua để tàng trữ rất lớn so với khung định lượng. Trước đó bị cáo đã mua một lần với số tiền 500.000₫ cũng để sử dụng, bị cáo sử dụng mỗi ngày từ 02 đến 03 lần. Điều này thể hiện bi cáo là người nghiện nặng, sử dụng ma túy với liều lượng, tần suất cao. Do đó, Hội đồng xét sử sẽ xem xét, cân nhắc các tình tiết này khi quyết định hình phạt đối với từng bị cáo.

Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng, cần phải có hình phạt tương ứng để đảm bảo răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung trong xã hội nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định. Do đó, Hội đồng xét xử phạt bị cáo 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù là phù hợp.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Hội đồng xét xử thấy rằng, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự và 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Hội đồng xét xử thấy rằng, 01 (một) dụng cụ tự chế dùng để sử dụng ma túy; 01 (một) phong bì được niêm phong (Vụ số: 868/KL-KTHS ngày 03/7/2024) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Phú, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Duy Minh, Nguyễn Đăng Khoa, bên trong có mẫu vật còn lại sau giám định là ma túy, loại Phethamphetamine, có khối lượng: 2,3680g (Hai phẩy ba sáu tam không gam); 01 (Một) phong bì được niêm phong; 01 (một) phong bì được niêm phong (Vụ số: 4637/KL-KTHS ngày 16/8/2024) của Phân viện kỹ thuật hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh (C09B) có các chữ ký ghi tên Nguyễn Phước Ninh (người chứng kiến), Nguyễn Hồng Tý (người niêm phong), trong có mẫu có mẫu vật còn lại sau giám định. Các vật chứng này sử dụng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 66P2-01639, số máy NZ110ME0077335, số khung: NZ110M0077335 (qua sử dụng chưa kiểm tra chất lượng bên trong); 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 66P2-016.39 do Phan Anh Tuấn đứng tên sở hữu. Ông Phan Anh Tuấn cho rằng đã bán cho người khác và không có yêu cầu đối với xe này. Bị cáo xác định đã mua xe này và sử dụng làm phương tiện để mua ma túy để sử dụng. Do đó, có thể xác định bị cáo đã sử dụng xe này làm phương tiện để phạm tội và xe này còn giá trị sử dụng. Vì vậy, tịch thu xe và giấy xe trên sung vào ngân sách nhà nước là phù hợp.

[8] Về án phí sơ thẩm:

Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Theo quy định tại Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Thanh Tuấn phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt: Bị cáo Lê Thanh Tuấn 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính kể từ ngày 26/6/2024.

  2. Về xử lý vật chứng:

    Căn cứ Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự và 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) dụng cụ tự chế dùng để sử dụng ma túy; 01 (một) phong bì được niêm phong (Vụ số: 868/KL-KTHS ngày 03/7/2024) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Phú, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Duy Minh, Nguyễn Đăng Khoa, bên trong có mẫu vật còn lại sau giám định là ma túy, loại Phethamphetamine, có khối lượng: 2,3680g (Hai phẩy ba sáu tam không gam); 01 (Một) phong bì được niêm phong; 01 (một) phong bì được niêm phong (Vụ số: 4637/KL-KTHS ngày 16/8/2024) của Phân viện kỹ thuật hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh (C09B) có các chữ ký ghi tên Nguyễn Phước Ninh (người chứng kiến), Nguyễn Hồng Tý (người niêm phong), trong có mẫu có mẫu vật còn lại sau giám định.

    Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô biển số 66P2-01639, số máy NZ110ME0077335, số khung: NZ110M0077335 (qua sử dụng chưa kiểm tra chất lượng bên trong); 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 66P2-016.39 do Phan Anh Tuấn đứng tên sở hữu.

    Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18 tháng 9 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Châu Phú và Chi cục Thị hành án dân sự huyện Châu Phú.

  3. Về án phí:

    Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Lê Thanh Tuấn phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
  5. Về quyền kháng cáo:

    Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND H.Châu Phú;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - CQCSĐT Công an H. Châu Phú;
  • - Nhà tạm giữ - Công an H.Châu Phú;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - CCTHA H.Châu Phú;
  • - Lưu HS - VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Văn Hoà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 74/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger