|
TÒA ÁN ND HUYỆN TRIỆU SƠN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 74/2024/HS-ST
Ngày 26 - 9 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN- THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Long và ông Nguyễn Mạnh Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Đào Hải Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 54/2024/HSST ngày 06 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Trịnh Ngọc K – Sinh năm 1968, nơi sinh: Huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi đăng ký HKTT: Tổ dân phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Ngọc G (Đã chết) và bà Hà Thị N; có vợ Lê Thị M và 3 con; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 27/6/1996, bị TAND huyện Triệu Sơn xử phạt 18 tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Gây rối trật tự công cộng”; ngày 15/12/2004, bị TAND huyện Triệu Sơn xử phạt 06 tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”; ngày 20/8/2012, bị TAND huyện Triệu Sơn xử phạt 12 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Bị cáo đã chấp hành xong các bản án và đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/10/2023 cho đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.
2. Lê Văn Q – Sinh năm 2000, nơi sinh: Huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; bố không rõ là ai và bà Lê Thị N1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/10/2023 đến nay. Hiện nay, bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Đình T, sinh năm 2005
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Lê Trọng S, sinh năm 1994
Địa chỉ: Thôn F, xã V, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Khoảng 15giờ, ngày 08/10/2023, Tổ công tác Đội Kinh tế - Ma túy Công an huyện T và Tổ công tác Công an thị trấn T, huyện T đang làm nhiệm vụ tại Tổ dân phố A, thị trấn T, huyện T, thì phát hiện Lê Đình T có biểu hiện liên quan đến ma túy, tiến hành kiểm tra. Tổ công tác phát hiện bên trong túi quần phía trước bên trái đang mặc của Lê Đình T có 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa 01 phân viên nén màu hồng nghi là ma túy. Lê Đình T khai nhận, đây là số ma túy T mua của Lê Văn Q và Trịnh Ngọc K. Tổ công tác đã lập biên bản vụ việc, thu giữ, niêm phong tang vật (ký hiệu T1). Sau khi biết T bị phát hiện tàng trữ ma túy, Trịnh Ngọc K và Lê Văn Q đến Cơ quan Điều tra Công an huyện T đầu thú về hành vi bán ma tuý.
2. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trịnh Ngọc K ở thôn T, xã H, huyện T, thu giữ: 01 điện thoại di động màu xanh đen, có chữ 4G ở màn hình, bên trong gắn thẻ sim có số thuê bao 0345.205.400, đã qua sử dụng, số tiền 658.000 đồng (trong người Khuê), 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu xám trong quần bỏ treo trên tường của Trịnh Ngọc K, niêm phong ký hiệu K1; 01 mảnh giấy bạc màu trắng, bám dính chất màu đen trong tủ gỗ, niêm phong ký hiệu K2: 01 cóng thủy tinh bám dính chất màu đen, niêm phong ký hiệu K3.
3. Quá trình điều tra, Lê Văn Q khai nhận: Khoảng 15 giờ, ngày 08/10/2024 Lê Đình T gọi điện thoại cho Q hỏi mua 800.000 đồng ma túy (Hồng phiến), Q điện thoại hỏi Trịnh Ngọc K còn ma túy bán cho T không thì K bảo có nên Q nhắn tin hẹn T lên nhà K. Sau đó, K gọi điện thoại cho Q lên nhà và nói với Q xuống nhà dưới (khu trang trại phía dưới) xem C có ở đó không để hỏi mua ma túy. Q đi xuống nhà dưới thì không thấy C nên gọi điện thoại cho K biết và quay lại nhà K thì thấy K đi đâu về, trong nhà có Lê Trọng S. Bị cáo K, Q đi vào bàn ngồi cùng S. Tại đây, K lấy từ túi quần ra 01 túi ni lông có 05 viên hồng phiến để lên bàn và bảo Q xuống bếp lấy bộ đồ sử dụng ma túy để S sử dụng ma túy. Cùng lúc, Lê Đình T đến, T đưa 600.000 đồng cho Q để mua ma túy, nhận tiền xong Q đưa lại cho K, K bảo Q gói 04 viên ma túy (hồng phiến) trên bàn đưa cho T, thì S nói hết thì lấy gì chơi, K nói đợi lúc là có. Q bán ma túy cho K không được trả công mà được K cho ma túy sử dụng hoặc sử dụng ma túy cùng K.
Ngoài bán ma túy cho T ngày 08/10/2023, Q còn khai nhận giúp K bán ma túy cho T vào trưa ngày 07/10/2023, T chuyển 700.000 đồng vào tài khoản của Q để mua ma tuý. Sau đó, Q đến gặp C mua 700.000 đồng ma túy (thanh toán bằng hình thức chuyển tiền vào tài khoản mang tên Lê Đình N2), C đưa cho Q 01 gói ma túy 7 viên hồng phiến, Q đi về đưa cho K. Khuê đưa cho T 4 viên. Tuy nhiên, sau đó Q thay đổi lời khai với nội dung Q là người mua ma túy từ C rồi bán cho T, K không biết việc mua bán ma túy giữa Q, C và T.
4. Trịnh Ngọc K khai nhận: Ngày 8/10/2023, K bán 04 viên ma túy cho Lê Đình T, còn 01 viên ma tuý cho Lê Trọng S sử dụng tại trang trại Khuê đang trông coi. Khuê không bán ma túy cho Lê Đình T vào ngày 07/10/2023; không bảo Lê Văn Q lấy bộ đồ sử dụng ma túy để Lê Trọng S sử dụng ma túy. Số ma túy bán cho T và S sử dụng là K đưa tiền cho Q mua của C vào ngày 07/10/2023. Đối với số ma túy, Cơ quan điều tra thu giữ trong túi quần bò treo trên tường là của K, mục đích là để K sử dụng.
5. Lê Đình T khai nhận mua ma túy từ Lê Văn Q, Trịnh Ngọc K 01 lần vào ngày 07/10/2023 với số tiền 700.000 đồng và 01 lần vào ngày 08/10/2023 với số tiền 600.000 đồng.
6. Lê Trọng S khai nhận, ngày 08/10/2023, đến nhà Trịnh Ngọc K hỏi mua 800.000 đồng ma túy để sử dụng thì K mượn xe máy của S đi đâu không rõ. Lúc sau, K về và Lê Văn Q đến, K lấy 01 gói bên trong có 05 viên ma túy (hồng phiến) trong túi quần để trên bàn và bảo Q lấy bộ sử dụng ma túy cho S sử dụng, S lấy 01 viên ra sử dụng. Sau đó, Lê Trọng T1 đến đưa cho Quân số tiền 600.000 đồng để mua ma túy, Q nhận tiền và đưa cho K, K bảo Q gói 04 viên ma túy trên bàn bán cho T1, thì S nói hết ma túy lấy gì sử dụng. Khuê và Q nói đợi tí sắp có hàng.
7. Lê Đình C khai nhận, đầu tháng 10/2023, không đến trang trại của Trịnh Ngọc K, không biết K là ai và không bán ma túy cho K, Q. Lê Đình N2 có vay tiền mặt của C và vợ C nhiều lần với số tiền khác nhau, sau đó Nam trả lại tiền bằng hình thức chuyển khoản, không có lần nào chuyển số tiền 700.000 đồng.
Kết luận giám định số 3709/KL-KTHS ngày 13/10/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công tỉnh T, kết luận:
- 01 phần viên nén màu hồng của phong bì niêm phong ký hiệu T1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 0,077g, loại Methamphetamine;
- Chất bột màu xám của phong bì niêm phong ký hiệu K1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 0,410g loại Methamphetamine;
- Tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine trong chất bám dính màu đen trên mảnh giấy bạc màu trắng của phong bì niêm phong K2 gửi giám định. Không xác định được khối lượng chất ma túy bám dính.
- Tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine trong chất bám dính màu đen bên trong cóng thủy tỉnh của phong bì niêm phong K3 gửi giám định. Không xác định được khối lượng chất ma túy bám dính.
Vật chứng và đồ vật thu giữ: 01 phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K - Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T2, Nguyễn Thọ N3 và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T; 01 điện thoại Samsung Galaxy J5 màu vàng của Lê Đình T: 01 điện thoại iPhone 6s màu xám của Lê Văn Q; 01 điện thoại di động màu xanh đen, có chữ 4G ở màn hình của Trịnh Ngọc K, tất cả đã qua sử dụng được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Triệu Sơn chờ xử lý theo quy định. Số tiền 658.000 đồng, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã nộp vào tài khoản của Cơ quan CSĐT Công an huyện T mở tại Kho bạc nhà nước huyện T để bảo quản và chờ xử lý theo quy định.
Bản cáo trạng số 68/CT-VKS-TS ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn truy tố:
Bị cáo Trịnh Ngọc K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS, tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 BLHS, tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Bị cáo Lê Văn Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS, tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng:
- Đối với Trịnh Ngọc K: Áp dụng Khoản 1 Điều 251, Khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, 38, 17,58 BLHS xử phạt Trịnh Ngọc K từ 3 năm đến 3 năm 6 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, từ 2 năm 9 tháng đến 3 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
- Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, 38, 55 BLHS xử phạt Trịnh Ngọc K từ 1 năm 6 tháng đến 2 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Tổng hợp cả 3 tội: Phạt Trịnh Ngọc K từ 7 năm 3 tháng đến 8 năm 6 tháng tù.
- Đối với Lê Văn Q: Áp dụng Điểm b khoản 2 Điều 251, Khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, 38, 17, 58, 55 BLHS xử phạt Lê Văn Q từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, từ 2 năm 6 tháng đến 2 năm 9 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Tổng hợp cả 2 tội: Phạt Lê Văn Q từ 10 năm đến 10 năm 9 tháng tù.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 47BLHS, Khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, 01 cóng; Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước 03 điện thoại di động của Trịnh Ngọc K, Lê Văn Q, Lê Đình T; Tịch thu số tiền 658.000₫ nộp Ngân sách nhà nước.
Tại phiên tòa, các bị cáo Trịnh Ngọc K, Lê Văn Q khai nhận hành vi phạm tội như trên, không có ý kiến gì tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:
[2.1] Đối với hành vi Mua bán trái phép chất ma tuý của Trịnh Ngọc K, Lê Văn Q: Tại phiên tòa, bị cáo Trịnh Ngọc K khai: Ngày 08/10/2023, bán 4 viên hồng phiến cho Lê Đình T giá 600.000đ, Q là người giới thiệu, đưa ma tuý cho T, nhận tiền của T đưa cho K phù hợp với lời khai của Trịnh Ngọc K trong quá trình điều tra và phù hợp với lời khai của Lê Văn Q, Lê Đình T. T khai sau khi mua 4 viên hồng phiến giá 600.000đ từ Q và K, T đã sử dụng hết 3,5 viên còn lại 0,5 viên bị Công an thu giữ (khối lượng 0,077g loại Methamphetamine).
Lê Đình T còn khai: Ngày 07/10/2023, T đến trang trại do Trịnh Ngọc K mua 4 viên hồng phiến giá 700.000₫ của Q và K. T chuyển 700.000đ vào tài khoản của Q. Tuy nhiên, K không thừa nhận lần bán ma tuý này. Lời khai của Lê Văn Q tại Biên bản hỏi cung ngày 04/7/2024 (BL 267, 268) và tại phiên toà Q khai ngày 07/10/2023, Q là người trực tiếp mua ma túy của C để bán cho T. T chuyển khoản 700.000đ vào tài khoản của Q. Khuê không biết việc này. Do đó, không có cơ sở xác định, K bán ma tuý cho T vào ngày 07/10/2023.
Hành vi bán ma túy cho anh T vào ngày 08/10/2023 của Trịnh Ngọc K đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS. Hành vi bán ma túy cho anh T vào ngày 07/10/2023 và ngày 08/10/2023 của Lê Văn Q đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251BLHS.
[2.2] Đối với hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý: Tại phiên toà, Trịnh Ngọc K, Lê Văn Q khai: Ngày 08/10/2023, Lê Trọng S đến trang trại do Trịnh Ngọc K trông coi và nói với K: S có 800.000đ lấy ma tuý về sử dụng. Khuê mượn xe của S đi cắt tóc sau đó về thì lấy trong túi quần ra 5 viên hồng phiến để lên bàn. Khuê và Q bán cho T 4 viên 600.000đ, còn 01 viên Khuê nói với S có sử dụng thì sử dụng. Q lấy dụng cụ cho S sử dụng ma túy. Lời khai tại phiên tòa của các bị cáo phù hợp với lời khai của Trịnh Ngọc K ngày 09/10/2023 (BL 172,173), lời khai của Lê Văn Q (BL 160, 163,268); lời khai của Lê Trọng S ngày 25/10/2023 (BL 198,199) và Biên bản đối chất ngày 12/7/2024 (BL 276,277); phù hợp với Biên bản khám xét nơi ở của Khuê thu được: 01 cóng thủy tinh bám dính chất màu đen, niêm phong ký hiệu K3; phù hợp với Kết luận giám định số 3709/KL-KTHS ngày 13/10/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công tỉnh T, kết luận: Tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine trong chất bám dính màu đen bên trong cóng thủy tỉnh của phong bì niêm phong K3 gửi giám định, không xác định được khối lượng chất ma túy bám dính.
Hành vi cung cấp ma tuý, dụng cụ và địa điểm cho Lê Trọng S sử dụng ma tuý vào ngày 08/10/2023 của Trịnh Ngọc K đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS. Hành vi đưa dụng cụ cho Lê Trọng S sử dụng ma tuý vào ngày 08/10/2023 của Lê Văn Q đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS với vai trò là người giúp sức.
[2.3] Đối với hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý của Trịnh Ngọc K: Quá trình điều tra và tại phiên toà, K đều khai nhận: Cơ quan Công an khám xét nhà có thu giữ 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu xám trong túi quần bò treo trên tường của Trịnh Ngọc K, có tổng khối lượng là 0,410g loại Methamphetamine. Khuê mua để sử dụng. Lời khai của bị cáo phù hợp với tang vật thu được và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, Trịnh Nrọc K1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Như vậy, Bản Cáo trạng số 68/CT-VKS-TS ngày 05 tháng 9 năm 2024 và lời Luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn truy tố các hành vi của Trịnh Ngọc K, Lê Văn Q là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất của hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy nhưng vẫn mua ma túy để sử dụng, bán để kiếm lời và cung cấp cho người khác sử dụng không những ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, kinh tế, nhân cách con người mà còn là một tệ nạn xã hội cần phải ngăn chặn. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Trong vụ án này, K và Q đồng phạm về tội Mua bán trái phép chất ma túy và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ngày 08/10/2023. Trong đó, K là người cung cấp ma túy để Q bán cho T, cung cấp ma túy, dụng cụ, địa điểm cho S sử dụng nên có vai trò chính trong vụ án. Bị can Q có vai trò giúp sức tích cực cho K bán ma túy, lấy dụng cụ sử dụng ma túy cho S sử dụng nên có vai trò sau Khuê.
Hành vi tàng trữ trái phép 0,410g loại Methamphetamine của Trịnh Ngọc K là độc lập. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho Lê Đình T ngày 07/10/2023 của Lê Văn Q là độc lập.
[4] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo đều có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình đó là thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, đầu thú quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo K có nhân thân xấu, đã bị kết án nhiều lần nhưng đã được xoá án tích. Bị cáo Q có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội.
Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất của vụ án, tính chất hành vi phạm tội, nhân thân như đã đánh giá ở trên để lên mức hình phạt phù hợp với các bị cáo. Xét cần phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ khả năng cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Về biện pháp tư pháp: Ma túy là chất nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; Tịch thu tiêu hủy 01 cóng là công cụ sử dụng ma tuý; Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước 03 điện thoại di động của Trịnh Ngọc K, Lê Văn Q, Lê Đình T dùng để liên lạc mua, bán ma tuý. Tịch thu số tiền Khuê bán ma tuý mà có 600.000₫ nộp Ngân sách nhà nước; số tiền 58.000₫ thu giữ của Trịnh Ngọc K nhưng tại phiên tòa bị cáo không yêu cầu trả lại và đề nghị nộp vào ngân sách nhà nước, do đó số tiền này được chấp nhận nộp vào ngân nhà nước.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 251, Khoản 1 Điều 255, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, các Điều 38, 55 BLHS đối với cả 03 tội. Áp dụng thêm Điều 17,58 BLHS đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” đối với Trịnh Ngọc K.
- - Điểm b khoản 2 Điều 251, Khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, các Điều 17,58, 38, 55 BLHS đối với Lê Văn Q.
[2]. Tuyên bố:
- - Bị cáo Trịnh Ngọc K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Bị cáo Lê Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
[3]. Xử phạt:
1. Trịnh Ngọc K: 3 (Ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” 2 (hai) năm 6 (S1) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 1 (Một) năm 6 (S1) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tổng hợp hình phạt: Buộc Trịnh Ngọc K phải chấp hành hình phạt chung: 7 (B) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (Ngày 08/10/2023).
2. Lê Văn Q: 7 (B) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 2 (H) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Tổng hợp hình phạt: Buộc Lê Văn Q phải chấp hành hình phạt chung: 9 (C1) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (Ngày 08/10/2023).
[4]. Áp dụng: Khoản 1 Điều 47BLHS; Khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 333 BLTTHS; Khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Về biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; Tịch thu tiêu hủy 01 cóng sử dụng ma tuý; Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước 03 điện thoại di động của Trịnh Ngọc K, Lê Văn Q, Lê Đình T; Tịch thu số tiền 658.000đ thu giữ của Trịnh Ngọc K nộp Ngân sách nhà nước.
- (Có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng số 03/VC/2025 ngày 02/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Triệu Sơn và Ủy nhiệm chi ngày 07/10/2024 của Kho bạc Nhà nước huyện T).
- - Về án phí: Các bị cáo Trịnh Ngọc K, Lê Văn Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu |
Bản án số 74/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN - THANH HÓA về hình sự sơ thẩm (tội phạm về ma túy)
- Số bản án: 74/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội phạm về ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN - THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án mua bán trái phép chất ma túy Trịnh Ngọc Khuê
