Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ QUY NHƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2024/KDTM-ST

Ngày: 25 - 9 - 2024

“V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Định

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Tấn Bình

Ông Nguyễn Văn Sỹ

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Văn Phương Nhi là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Võ Phong - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 47/2024/TLST-KDTM ngày 14/6/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 304 /2024/QĐXXST-KDTM ngày 15/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 249/2024/QÐST-KDTM ngày 04/9/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ1, địa chỉ: 198 đường T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn T – Chủ tịch HĐQT. Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Lưu Việt A – Giám đốc Xử lý nợ địa bàn MT2 Ngân hàng TMCP Đ1, địa chỉ: 82 đường L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; ông Lê Anh V – Chuyên viên Xử lý nợ Ngân hàng TMCP Đ1, địa chỉ: 04-06-08 đường Y, thành phố Q, tỉnh Bình Định. (Có mặt)

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1985; Địa chỉ: 511 đường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ1 (Sau đây gọi tắt là Ngân hàng) – do ông Lê Anh V là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 13/6/2022 bà Nguyễn Thị L có ký với Ngân hàng TMCP Đ1 – Chi nhánh B Đơn đề nghị vay vốn và Đề nghị kiêm Hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng Thẻ tín dụng quốc tế dành cho KHCN; số tiền vay 50.000.000 đồng; số tiền đã nhận nợ 46.247.685 đồng; thời hạn vay 12 tháng kể từ ngày 13/6/2022. Ngày 23/6/2022 bà L đã ký với Ngân hàng Hợp đồng cho vay từng lần số REF2217300299/HDTD/BDA-NTL, hợp đồng với các nội dung chính số tiền vay 2.200.000.000 đồng; thời hạn vay 120 tháng (từ ngày 24/6/2022 đến ngày 24/6/2032); lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân: 9,39%/năm (lãi suất được tính theo năm với một năm là 365 ngày). Lãi suất cho vay trong hạn sẽ được cố định trong vòng 12 tháng kể từ ngày giải ngân. Hết thời hạn trên, lãi suất cho vay trong hạn sẽ được điều chỉnh định kỳ vào ngày làm việc đầu tiên của mỗi quý khi có sự thay đổi của Lãi suất cơ sở do Ngân hàng ban hành từng thời kỳ. Mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng bằng lãi suất cơ sở của Ngân hàng đang áp dụng tại thời điểm điều chỉnh cộng với biên độ 3,69%/năm; lãi suất quá hạn bằng 150 % lãi suất trong hạn và được áp dụng với dư nợ gốc quá hạn. Ngoài ra, hợp đồng còn có các nội dung khác như về phí, giải ngân, kỳ hạn trả nợ...

Để đảm bảo cho khoản vay, ngày 23/6/2022 bà L đã ký kết với Ngân hàng các hợp đồng thế chấp sau:

  1. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số REF2217300299/HDTC/BDA-NTL ký ngày 23/6/2022 thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 1589, tờ bản đồ số 6, diện tích 142m², tại địa chỉ Thôn T, Xã P, Huyện T, Tỉnh Bình Định theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA 648993, số vào sổ cấp GCN CH 19520 do Ủy ban nhân dân Huyện T, tỉnh Bình Định cấp ngày 12/01/2022; cập nhật chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị L ngày 07/4/2022.
  2. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số REF2217300299/HDTC/BDA-NTL/TS02 ngày 23/6/2022 thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 1597, tờ bản đồ số 6, diện tích 149,4m², tại địa chỉ Thôn T, Xã P, Huyện T, Tỉnh Bình Định theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU 748183, số vào sổ cấp GCN CS 18720 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 29/04/2020 mang tên bà Nguyễn Thị L.

Quá trình thực hiện hợp đồng, tính đến ngày 25/9/2024, bà L chỉ trả cho Ngân hàng tổng số tiền 438.333.982 đồng, trong đó gốc 165.005.324 đồng, lãi 273.328.658 đồng. Bà L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng, nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà L phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 25/9/2024 là 2.284.141.263 đồng, trong đó gốc 2.013.090.235 đồng, lãi 271.051.028 đồng, cụ thể theo Đơn đề nghị vay vốn và Đề nghị kiêm Hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng Thẻ tín dụng quốc tế dành cho KHCN ngày 13/06/2022 nợ gốc 48.247.685 đồng, nợ lãi 6.435.196 đồng; đối với Hợp đồng cho vay từng lần số REF2217300299/HDTD/BDA-NTL ngày 23/06/2022, nợ gốc 1.964.842.550 đồng, nợ lãi 264.615.832 đồng, và tiếp tục trả số tiền nợ lãi tính theo lãi suất quy định tại Đơn đề nghị vay vốn và Đề nghị kiêm Hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng Thẻ tín dụng quốc tế dành cho KHCN ký ngày 13/06/2022 và Hợp đồng cho vay từng lần số REF2217300299/HDTD/BDA-NTL ký ngày 23/06/2022, và các khoản phí, phạt quy định tại hợp đồng nêu trên phát sinh kể từ ngày 26/9/2024 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng. Trường hợp bà L không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự kê biên, phát mại các tài sản thuộc sở hữu của bà L để thu hồi nợ theo hợp đồng thế chấp mà hai bên đã ký kết. Trường hợp số tiền phát mại thu hồi từ tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả nợ cho Ngân hàng thì bà L phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.

*/ Bị đơn bà Nguyễn Thị L vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Toà không lấy được lời khai.

*/ Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về hướng giải quyết vụ án đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ1. Đương sự phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ1 khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn bà Nguyễn Thị L cư trú tại 511 đường T, phường L, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn. Tại phiên tòa, bị đơn bà Nguyễn Thị L mặc dù đã được Tòa triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bà L.

[2] Ngày 13/6/2022 bà Nguyễn Thị L có ký với Ngân hàng TMCP Đ1 – Chi nhánh B Đơn đề nghị vay vốn và Đề nghị kiêm Hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng Thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân, số tiền vay 50.000.000 đồng, số tiền đã nhận nợ 46.247.685 đồng, thời hạn vay 12 tháng kể từ ngày 13/6/2022. Ngày 23/6/2022 bà L đã ký với Ngân hàng Hợp đồng cho vay từng lần số REF2217300299/HDTD/BDA-NTL, hợp đồng với các nội dung chính số tiền vay 2.200.000.000 đồng, thời hạn vay 120 tháng (từ ngày 24/06/2022 đến ngày 24/06/2032), lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân: 9,39%/năm (lãi suất được tính theo năm với một năm là 365 ngày). Lãi suất cho vay trong hạn sẽ được cố định trong vòng 12 tháng kể từ ngày giải ngân. Hết thời hạn trên, lãi suất cho vay trong hạn sẽ được điều chỉnh định kỳ vào ngày làm việc đầu tiên của mỗi quý khi có sự thay đổi của Lãi suất cơ sở do Ngân hàng ban hành từng thời kỳ. Mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng lãi suất cơ sở của Ngân hàng đang áp dụng tại thời điểm điều chỉnh cộng với biên độ 3,69%/năm; lãi suất quá hạn bằng 150 % lãi suất trong hạn và được áp dụng với dư nợ gốc quá hạn. Ngoài ra, hợp đồng còn có các nội dung khác như về phí, giải ngân, kỳ hạn trả nợ... Để đảm bảo cho khoản vay, bà L đã thế chấp các tài sản cho Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số REF2217300299/HDTC/BDA-NTL ký ngày 23/6/2022 thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 1589, tờ bản đồ số 6 tại địa chỉ thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA 648993, số vào sổ cấp GCN CH 19520 do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định cấp ngày 12/01/2022; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số REF2217300299/HDTC/BDA-NTL/TS02 ngày 23/06/2022 thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 1597, tờ bản đồ số 6 tại địa chỉ thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU 748183, số vào sổ cấp GCN CS 18720 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 29/4/2020.

HĐXX nhận thấy, Đơn đề nghị vay vốn và Đề nghị kiêm Hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng Thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân ngày 13/6/2022 và Hợp đồng cho vay từng lần số REF2217300299/HDTD/BDA-NTL ngày 23/6/2022 nói trên được ký kết bởi các chủ thể có đầy đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự; chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện; mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên đủ cơ sở để HĐXX xác định các giao dịch nói trên đều hợp pháp.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bà L thường xuyên không thanh toán gốc, lãi, đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng, theo đó khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà L phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 25/9/2024 là 2.284.141.263 đồng, trong đó gốc 2.013.090.235 đồng, lãi 271.051.028 đồng, cụ thể đối với Đơn đề nghị vay vốn và Đề nghị kiêm Hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng Thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân ký ngày 13/06/2022 nợ gốc 48.247.685 đồng, nợ lãi 6.435.196 đồng; đối với Hợp đồng cho vay từng lần số REF2217300299/HDTD/BDA-NTL ký ngày 23/06/2022, nợ gốc 1.964.842.550 đồng, nợ lãi 264.615.832 đồng, và tiếp tục trả số tiền nợ lãi tính theo lãi suất quy định tại Hợp đồng cho vay từng lần số REF2217300299/HDTD/BDA-NTL ký ngày 23/6/2022 và Đơn đề nghị vay vốn và Đề nghị kiêm Hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng Thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân ký ngày 13/6/2022 và các khoản phí, phạt quy định tại hợp đồng tín dụng nêu trên phát sinh kể từ ngày 26/9/2024 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng là có căn cứ.

Ngoài ra, xét nội dung, hình thức của các hợp đồng thế chấp được ký kết giữa bà L với Ngân hàng nói trên tất cả đều đã được công chứng và đã đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định, nên đây là căn cứ phát sinh quyền nghĩa vụ của các bên khi phát sinh tranh chấp. Trường hợp bà L không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ, trường hợp số tiền phát mại thu hồi từ tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả nợ cho Ngân hàng thì bà L phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay là có căn cứ theo quy định tại các Điều 298, 299; 317, 319, 321, 322, 323, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự và Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

[3] Về án phí KDTM-ST và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:

[3.1] Về án phí KDTM-ST: Theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH2016 ngày 30.12.2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội, do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bị đơn bà L phải chịu án phí 75.568.000 đồng, hoàn trả lại cho Ngân hàng tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[3.2] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tổng cộng 5.000.000 đồng. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng được chấp nhận nên bị đơn bà L phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Ngân hàng đã tạm ứng chi phí 5.000.000 đồng do đó, bà L phải có nghĩa vụ hoàn lại cho Ngân hàng số tiền 5.000.000 đồng.

[4] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ vào các Điều 298, 299; 317, 319, 321, 322, 323, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự và Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • - Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH2016 ngày 30.12.2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ1:

Buộc bà Nguyễn Thị L phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Đ1 tính đến ngày 25/9/2024 tổng số tiền 2.284.141.263 đồng (Hai tỷ hai trăm tám mươi bốn triệu một trăm bốn mươi mốt nghìn hai trăm sáu mươi ba đồng), trong đó gốc 2.013.090.235 đồng (Hai tỷ không trăm mười ba triệu không trăm chín mươi nghìn hai trăm ba mươi lăm đồng), lãi 271.051.028 đồng (Hai trăm bảy mươi mốt triệu không trăm năm mươi mốt nghìn không trăm hai mươi tám đồng), cụ thể đối với đơn đề nghị vay vốn và Đề nghị kiêm Hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng Thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân ký ngày 13/6/2022 nợ gốc 48.247.685 đồng, nợ lãi 6.435.196 đồng; đối với Hợp đồng cho vay từng lần số REF2217300299/HDTD/BDA-NTL ký ngày 23/6/2022, nợ gốc 1.964.842.550 đồng, nợ lãi 264.615.832 đồng. Bà Nguyễn Thị L còn phải tiếp tục trả số tiền nợ lãi tính theo lãi suất quy định tại Đơn đề nghị vay vốn và Đề nghị kiêm Hợp đồng hạn mức, phát hành, sử dụng Thẻ tín dụng quốc tế dành cho khách hàng cá nhân ký ngày 13/6/2022 và Hợp đồng cho vay từng lần số REF2217300299/HDTD/BDA-NTL ký ngày 23/6/2022 và các khoản phí, phạt quy định tại hợp đồng nêu trên phát sinh kể từ ngày 26/9/2024 cho đến khi trả hết nợ.

Trường hợp bà Nguyễn Thị L không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ các khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Đ1 thì Ngân hàng TMCP Đ1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại các tài sản của bà Nguyễn Thị L để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số REF2217300299/HDTC/BDA-NTL ký ngày 23/06/2022 thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 1589, tờ bản đồ số 6 tại địa chỉ thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA 648993, số vào sổ cấp GCN CH19520 do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Bình Định cấp ngày 12/01/2022; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số REF2217300299/HDTC/BDA-NTL/TS02 ngày 23/6/2022 thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 1597, tờ bản đồ số 6 tại địa chỉ thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU 748183, số vào sổ cấp GCN CS 18720 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 29/4/2020. Trong trường hợp số tiền phát mại thu hồi từ tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả nợ cho Ngân hàng thì bà Nguyễn Thị L phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.

2. Về án phí KDTM-ST và chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:

2.1. Về án phí KDTM-ST: Bị đơn bà Nguyễn Thị L phải chịu 72.568.000 đồng (Bảy mươi hai triệu năm trăm sáu mươi tám nghìn đồng); Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đ1 không phải chịu án phí nên được hoàn lại số tiền 37.989.000 đồng (Ba mươi bảy triệu chín trăm tám mươi chín nghìn đồng) mà Ngân hàng TMCP Đ1 đã nộp theo biên lai số 0001107 ngày 14/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn.

2.2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Bị đơn bà Nguyễn Thị L phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Đ1 số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

3. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND, CCTHADS Tp Quy Nhơn;
  • - TAND TP.Quy Nhơn;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Định

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2024/KDTM-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 74/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger