Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ UÔNG BÍ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2024/HSST

Ngày: 24-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Huy Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Xuyến và ông Thái Quang Định.
Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Mây - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Kiều Oanh – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại phòng xử án Toà án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 59/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/QĐXXST- HS ngày 27 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 18/2024/HSST-QĐ ngày 10/9/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lại Thị Thu N, tên gọi khác: không có; sinh ngày 28/10/1989 tại U, Quảng Ninh. Nơi ĐKHKTT: tổ A, khu G, phường B, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; chỗ ở: tổ C, khu I, phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lại Xuân H và bà Nguyễn Thị G; chồng: Lê Công H1 và có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: không; bị cáo hiện tại ngoại nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: chị Vũ Thị L; địa chỉ: tổ A, khu B, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên toà (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lại Thị Thu N có mối quan hệ quen biết với chị Vũ Thị L. Từ tháng 9/2022 đến tháng 12/2023, Lại Thị Thu N đã cho chị L vay 02 khoản vay với tổng số tiền 35.000.000 đồng, mức lãi suất 4.000 đồng/01 triệu/01 ngày và 8.000 đồng/01 triệu/01 ngày, tương ứng với 146%/năm và 292%/năm), thoả thuận lãi suất tính trên số nợ gốc ban đầu cho đến khi trả xong toàn bộ nợ gốc. Các khoản vay đều không viết giấy tờ vay, không có thời hạn vay. Chị L đã trả tiền lãi cho N đến tháng 12/2023 thì không tiếp tục trả tiền gốc, tiền lãi được nữa, do kinh tế khó khăn nên N cho chị L nợ lãi. Đến ngày 07/02/2024, chị L trình báo cơ quan Công an về hành vi cho vay lãi nặng của N. Quá trình điều tra đã xác định, trong khoảng thời gian từ ngày 01/10/2022 đến ngày 07/02/2024, Lại Thị Thu N đã sử dụng 35.000.000 đồng cho chị Vũ Thị L vay lãi nặng, với tổng số tiền lãi là 55.300.000 đồng, trong đó lãi suất vượt quá 20%/năm theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự (tiền thu lợi bất chính) là 49.478.082 đồng, cụ thể như sau:

  • - Khoản vay thứ nhất với số tiền nợ gốc 15.000.000 đồng: Ngày 11/9/2022, chị L hỏi vay Ninh 15.000.000 đồng. Hai bên thoả thuận tiền lãi 4.000 đồng/01 triệu/01 ngày (tương đương với lãi suất 146%/năm), mỗi tháng trả lãi 01 lần là 1.800.000 đồng, thời điểm thu tiền lãi từ ngày 30 của tháng, đóng lãi tới ngày 03 của tháng kế tiếp. Ninh thu tiền lãi của chị Liên từ tháng 10/2022 đến tháng 12/2023 tổng số tiền là 27.200.000 đồng, sau thời gian này chị L nợ tiền gốc và lãi đến ngày 07/02/2024 chưa trả cho N. Số tiền lãi Ninh thu của chị Liên từ tháng 10/2022 đến ngày 07/02/2024 là 29.700.000 đồng, trong đó số tiền lãi theo quy định là 4.068.493 đồng, số tiền lãi vượt quá 20%/năm là 25.631.507 đồng. Số tiền này chị L chưa trả tiền gốc cho N.
  • Số tiền thực tế N đã thu của chị L (từ tháng 10/2022 đến tháng 12/2023) của khoản vay này là 27.200.000 đồng, trong đó số tiền lãi theo quy định là 3.756.164 đồng, số tiền lãi vượt quá 20%/năm là 23.443.836 đồng.
  • - Khoản vay thứ hai với số tiền nợ gốc 20.000.000 đồng: tháng 3/2023, chị L hỏi vay tiếp của N số tiền 20.000.000 đồng. Hai bên thống nhất tiền lãi là 10.000 đồng/01 triệu/01 ngày. Đến tháng 5/2023 N chuyển đủ cho chị L tổng số tiền 20.000.000 đồng (khoản vay không có kỳ hạn). Lúc này chị L xin giảm tiền lãi xuống còn 8.000 đồng/01 triệu/01 ngày nhưng N không đồng ý nên chị L không trả lãi cho N. Đến tháng 9/2023, N và chị L thống nhất tiền lãi là 8.000 đồng/01 triệu/01 ngày (tương đương với lãi suất 292%/năm), 10 ngày trả lãi một lần, số tiền 1.600.000 đồng, mỗi tháng trả lãi 03 lần. Chị L đã trả lãi cho N từ tháng 9/2023 đến ngày 10/12/2023 tổng số tiền 16.000.000 đồng, trả nợ gốc đến tháng 01/2024 số tiền 15.000.000 đồng, số tiền gốc còn lại là 5.000.000 đồng và tiền lãi đến ngày 07/02/2024 chưa trả. Số tiền lãi N tính nhận của chị Liên từ tháng 9/2023 đến ngày 07/02/2024 là 25.600.000 đồng, trong đó số tiền lãi theo quy định là 1.753.425 đồng, số tiền lãi vượt quá 20%/01 năm là 23.846.575 đồng. Số tiền lãi thực tế N đã thu của chị Liên từ tháng 9/2023 đến ngày 10/12/2023 của khoản vay này tổng số tiền là 16.000.000 đồng, trong đó số tiền lãi theo quy định là 1.106.849 đồng, số tiền lãi vượt quá 20%/năm là 14.893.151 đồng.

Như vậy, tổng số tiền gốc chị L chưa trả cho N là 20.000.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà Lại Thị Thu N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Ngoài ra N còn khai cho 03 người khác vay tiền với lãi suất từ 36 %/năm đến 72%/năm. Cơ quan điều tra xác định không vượt quá 05 lần mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự, Công an thành phố U đã đề nghị Ủy ban nhân dân thành phố U xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Vũ Thị L vắng mặt tại phiên toà nhưng lời khai trong hồ sơ phù hợp với nội dung vụ án và lời khai của bị cáo về thời điểm vay, cách thức vay và thỏa thuận lãi suất, việc trả tiền nợ gốc, nợ lãi giữa chị L và bị cáo. Chị L vay tiền của bị cáo để chi tiêu cá nhân, không sử dụng vào mục đích bất hợp pháp. Chị đã trả cho bị cáo số tiền nợ gốc 15.000.000 đồng, còn nợ lại 20.000.000 đồng nợ gốc.

Tại Cáo trạng số: 1184/CT- VKSUB ngày 24/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí truy tố bị cáo về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 15; Điều 17 Bộ luật Hình sự; phạt bị cáo từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng, nộp ngân sách Nhà nước. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo đã bị áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính, nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47; Điều 48 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Buộc chị Vũ Thị L nộp lại số tiền đã vay 20.000.000 đồng vào ngân sách Nhà nước (NSNN); buộc bị cáo phải nộp vào NSNN số tiền cho vay chị L đã trả 15.000.000 đồng, số tiền lãi 4.863.013 đồng; Buộc bị cáo trả lại cho chị Vũ Thị L số tiền đã thu lời bất chính 38.336.987 đồng (được trừ đi từ số tiền 60.000.000 đồng bị cáo đã nộp); trả lại bị cáo số tiền 1.800.000 đồng. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu iPhone 13 Pro Max, bản 128GB, vỏ màu xám, màn hình cảm ứng; tịch thu tiêu hủy 01 sim gắn trong chiếc điện thoại trên.

Bị cáo không tranh luận; lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà là phù hợp với nhau, với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, với Biên bản vụ việc, các dữ liệu điện tử và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 09/2022 đến ngày 07/02/2024, tại phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, Lại Thị Thu N là người có đủ năng lực, trách nhiệm hình sự có hành vi cho chị Vũ Thị L vay tổng số tiền 35.000.000 đồng, với mức lãi suất từ 4.000 đồng/01 triệu/01 ngày và 8.000 đồng/01 triệu/01 ngày (tương đương với lãi suất 146%/năm và 292%/năm). Tổng số tiền lãi thu được là 55.300.000 đồng, trong đó lãi suất vượt quá 20%/năm theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 49.478.082 đồng (trong đó đã thu lời bất chính được số tiền 38.336.987 đồng, chưa thu được số tiền 11.141.095 đồng). Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí truy tố và kết luận về hành vi phạm tội đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về hình phạt:

[3.1] Hình phạt chính:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về tín dụng mà cụ thể là trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người vay, gây mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người đã trưởng thành, nhận thức đầy đủ về hành vi mình thực hiện là vi phạm pháp luật, nhưng chỉ vì hám lợi, thái độ coi thường pháp luật, bị cáo đã cố ý phạm tội, nên cần phải xử lý nghiêm.

  • * Tình tiết tăng nặng: không có.
  • * Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đã nộp tiền vào kho bạc Nhà nước thành phố U để khắc phục hậu quả nên được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ những đánh giá, phân tích nêu trên. Căn cứ vào nhân thân, hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy số tiền bất chính mà chị L phải trả cho bị cáo là 49.478.082 đồng nhưng thực tế bị cáo mới thu được 38.336.987 đồng (số tiền 11.141.095 đồng chưa thu được cần áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết phạm tội chưa đạt theo quy định tại Điều 15 bộ luật Hình sự. Vì vậy chỉ cần áp dụng dụng hình phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

[3.2] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự thì ng ười phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Xét bị cáo không có chức vụ, nghề nghiệp ổn định, đã bị áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[4] Về huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn: Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 83/HSST-LCCT và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số: 106/QĐ-THXC cùng ngày 05/9/2024 đối với bị cáo Lại Thị Thu N đã hết hiệu lực nên không xem xét, đề cập.

[5] Về trách nhiệm dân sự: bị cáo đã thu của chị L số tiền lãi vượt quá mức lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 38.336.987 đồng nên buộc bị cáo phải trả lại chị L số tiền trên (được trừ vào số tiền 60.000.000 đồng bị cáo đã nộp cho Cơ quan điều tra).

[6] Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sư; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì số vật chứng và tài sản tạm giữ được xử lý như sau:

Đối với số tiền gốc 35.000.000 đồng bị cáo cho chị L vay là công cụ phạm tội, nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước, trong đó chị L đã trả cho bị cáo 15.000.000 đồng, chị L còn nợ lại 20.000.000 đồng. Vì vậy bị cáo phải nộp lại 15.000.000 đồng, chị L phải nộp lại 20.000.000 đồng; đối với khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm của 02 khoản vay là 3.756.164đ + 1.106.849đ = 4.863.013₫ là khoản tiền do giao dịch trái pháp luật mà có nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước; đối với số tiền lãi chưa thu từ tháng 12/2023 đến ngày 07/02/2024 là 12.100.000 đồng nên bị cáo không phải nộp lại số tiền này. Như vậy tổng số tiền bị cáo phải nộp lại để sung ngân sách Nhà nước là 19.863.013 đồng. Sau khi trừ đi số tiền bị cáo trả cho chị L và số tiền bị cáo phải nộp vào ngân sách Nhà nước, số tiền còn lại 1.800.000 đồng cần trả cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với 01 điện thoại di động iPhone 13 Pro Max là công cụ phạm tội nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước, sim điện thoại số 0329.472.xxx không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.

[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 15; Điều 35 Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Lại Thị Thu N phạm tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

    Xử phạt: Lại Thị Thu N 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 589 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Lại Thị Thu N phải bồi thường cho chị Vũ Thị L số tiền 38.336.987 (được trừ vào số tiền 60.000.000 đồng mà bị cáo đã nộp tại cơ quan điều tra).
  3. Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động iPhone 13 Pro Max; tịch thu tiêu huỷ sim điện thoại số 0329.472.xxx; chị L phải nộp 20.000.000 đồng được trừ vào số tiền bị cáo trả cho chị L, số tiền còn lại 18.336.987 đồng trả lại cho chị L; bị cáo phải nộp tổng số tiền 19.863.013 đồng. Sau khi trừ đi số tiền bị cáo trả cho chị L và số tiền bị cáo phải nộp vào ngân sách Nhà nước, số tiền còn lại 1.800.000 đồng trả cho bị cáo.

    (Số vật chứng, tài sản trên có tình trạng và đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24 tháng 7 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố U và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh và Biên bản giao nhận tài sản ngày 05/3/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố U và kho bạc Nhà nước thành phố U).

  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

    Bị cáo Lại Thị Thu N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.916.849 đồng án phí dân sự, nộp ngân sách Nhà nước.

  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND thành phố Uông Bí;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - CQCSĐT Công an TP Uông Bí;
  • - CCTHADS thành phố Uông Bí;
  • - Cục QLXNC-BCA;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - UBND phường Quang Trung;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Huy Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2024/HSST ngày 24/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 74/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lại Thị Thu N - Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger