|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI TỈNH QUẢNG NGÃI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 74/2024/DS-ST Ngày 23/9/2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy Ly.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Đình Dũng,
- Bà Đoàn Thị Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hạ Quyên, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh T - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 168/2024/TLST-DS ngày 03/6/2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 354/2024/QĐXXST-DS ngày 23/8/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 205/2024/QĐST- DS ngày 09/9/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần N (sau đây gọi là Ngân hàng); địa chỉ: Số A đường T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh T1, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị, địa chỉ: Số A đường T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn; Ông Võ Văn L, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng - chi nhánh Q, địa chỉ: Số C đường H, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi (Giấy ủy quyền số 1117/UQ-VCB-PC ngày 05/9/2024), ông L ủy quyền lại cho ông Tôn Long T2, chức vụ: Phó trưởng phòng khách hàng bán lẻ và ông Nguyễn Ngọc V, chức vụ: Phó trưởng phòng khách hàng bán lẻ cùng địa chỉ: Số C đường H, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi (Giấy ủy quyền số 678/UQ-NHNT.QNg ngày 05/9/2024); Ông T2, ông V vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Quỳnh D, sinh năm 1980; địa chỉ: Số D đường T, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 25/3/2024, Đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 03/5/2024, trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của Ngân hàng trình bày:
Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp tín dụng kiêm phương án trả nợ (Áp dụng đối với cho vay cán bộ, công nhân viên cấp tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản) ngày 29/8/2015 của bị đơn ông Nguyễn Quỳnh D thì Ngân hàng đã ký hợp đồng cho vay cán bộ nhân viên số 4018/15/KHBL.QNg ngày 01/10/2015 với ông D để cho ông D vay số tiền 70.000.000 đồng, mục đích: Tiêu dùng hợp pháp, thời hạn vay 36 tháng; lãi suất cho vay trong hạn: 10%/năm; trả nợ gốc, lãi hàng tháng; lãi suất quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn; ông D đã ký giấy nhận nợ Ngân hàng số 3727/GNN-KHBL.QNg ngày 01/10/2015. Trong quá trình thực hiện hợp đồng vay, bị đơn đã trả được 54.200.000 đồng tiền nợ gốc và 9.257.225 đồng tiền nợ lãi, tính đến hết ngày 21/9/2024, ông D còn nợ 15.800.000 đồng tiền nợ gốc, 16.330.511 đồng tiền nợ lãi trong hạn, 6.710.122 đồng nợ lãi quá hạn, tổng cộng còn nợ gốc và lãi là 38.840.633 đồng.
Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Quỳnh D phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền nợ là 38.840.633 đồng và tiếp tục trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 22/9/2024 cho đến khi trả xong các khoản nợ theo mức lãi suất được các bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đến khi hết nợ.
* Bị đơn ông Nguyễn Quỳnh D đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng không có văn bản ghi ý kiến gởi đến Tòa án và không đến Tòa làm việc.
* Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tuân theo đúng pháp luật tố tụng dân sự về xác định quan hệ pháp luật, tư cách đương sự, thẩm quyền, thời hạn chuẩn bị xét xử, xác minh thu thập chứng cứ, thời hạn tống đạt các văn bản tố tụng, gởi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, trình tự, thủ tục phiên tòa; nguyên đơn, tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn không tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả cho Ngân hàng 15.800.000 đồng tiền nợ gốc, 16.330.511 đồng tiền nợ lãi trong hạn, 6.710.122 đồng nợ lãi quá hạn, tổng cộng là 38.840.633 đồng (tiền lãi tạm tính đến ngày 21/9/2024), bị đơn phải tiếp tục trả lãi phát sinh trên dư nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký kể từ ngày 22/9/2024 cho đến khi hết nợ, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho Ngân hàng tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng nên Tòa án xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Địa chỉ của bị đơn là số D đường T, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi nên căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi. Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng bị đơn ông Nguyễn Quỳnh D vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu của Ngân hàng về việc yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Quỳnh D phải thanh toán số tiền còn nợ, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn, bị đơn không phản đối yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Căn cứ khoản 2, 4 Điều 91 và khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, các tài liệu, chứng cứ Ngân hàng nộp thì việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Quỳnh D trả nợ số tiền 15.800.000 đồng nợ gốc, 16.330.511 đồng nợ lãi trong hạn, 6.710.122 đồng nợ lãi quá hạn, tổng cộng là 38.840.633 đồng (tiền lãi tạm tính đến ngày 21/9/2024), ông D có nghĩa vụ tiếp tục trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 22/9/2024 cho đến khi trả xong các khoản nợ theo mức lãi suất được các bên thỏa thuận tại hợp đồng cho vay với Ngân hàng là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận;
[4] Về án phí: Ông Nguyễn Quỳnh D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí đã nộp cho Ngân hàng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2, 4 Điều 91, khoản 2 Điều 92, 144, 147, 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 91, 95 của Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N. Buộc ông Nguyễn Quỳnh D phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N số tiền còn nợ cụ thể như sau: 15.800.000 đồng (mười lăm triệu tám trăm nghìn đồng) nợ gốc, 16.330.511 đồng (mười sáu triệu ba trăm ba mươi nghìn năm trăm mười một đồng) nợ lãi trong hạn, 6.710.122 đồng (sáu triệu bảy trăm mười nghìn một trăm hai mươi hai đồng) nợ lãi quá hạn; tổng cộng là 38.840.633 đồng (ba mươi tám triệu tám trăm bốn mươi nghìn sáu trăm ba mươi ba đồng) (tiền lãi tạm tính đến ngày 21/9/2024).
- Kể từ ngày 22/9/2024, ông Nguyễn Quỳnh D còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay cán bộ nhân viên số 4018/15/KHBL.QNg ngày 01/10/2015 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
- Về án phí: Ông Nguyễn Quỳnh D phải chịu 1.942.032 đồng (Một triệu chín trăm bốn mươi hai nghìn không trăm ba mươi hai đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N số tiền 936.695 đồng (Chín trăm ba mươi sáu nghìn sáu trăm chín mươi lăm đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002887 ngày 03/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
- Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự, điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Ly |
Bản án số 74/2024/DS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 74/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP N- Nguyễn Quỳnh Duy "T/C HĐ tín dụng"
