|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG TỈNH LẠNG SƠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 74/2024/HS-ST Ngày 16-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đình Tư;
Bà Nguyễn Thị Lợi.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hà Thanh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Nông Văn Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Bùi Thị Vân A; sinh ngày 20 tháng 01 năm 1998 tại tỉnh Ninh Bình; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố Y, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; con ông: Bùi Văn Đ, sinh năm 1972; con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1973; chồng: Phạm Thành L (đã ly hôn); con: Có 02 con (con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2021); tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; tạm giam từ ngày 19/01/2024 đến ngày 15/4/2024 được cho bảo lĩnh. Tại ngoại. Có mặt.
- Bị hại:
- Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 2001; địa chỉ: H, phường H, quận H, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
- Chị Phạm Cẩm T, sinh năm 1992; địa chỉ: Căn hộ M – 09.18 chung cư Jamona city, số G, Đ, phường P, quận G, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
- Anh Bùi Anh T1, sinh năm 2002; địa chỉ: Số A, ngách E, ngõ A, đường K, quận Đ, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
- Anh Vũ Công Đ1, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện P, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
- Anh Đỗ Văn H2, sinh năm 1990; địa chỉ: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
- Chị Lương Thị V, sinh năm 1995; địa chỉ: Xóm C, xã H, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt.
- Chị Lăng Thị H4, sinh năm 2000; địa chỉ: Khu D, thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
- Chị Lê Thị Quỳnh N, sinh năm 1996; địa chỉ: Khu D, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Chị Bùi Thị T2, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt.
- Anh Trịnh Duy H5, sinh năm 1998; địa chỉ: B, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt.
- Anh Đinh Văn T3, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn R, xã A, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ tháng 5/2023 đến tháng 12/2023 Bùi Thị Vân A sử dụng số điện thoại 0976.602.xxx để tạo tài khoản facebook “Kho Sỉ Giày” để đăng bán các mặt hàng giày, dép, túi xách, ba lô. Trên thực tế, Bùi Thị Vân A không có các mặt hàng này, mục đích đăng thông tin như vậy nhằm lừa đảo người mua hàng chuyển tiền đặt cọc cho mình rồi chiếm đoạt.
Ngày 15/7/2023, Bùi Thị Vân A bình luận vào một bài viết tìm mua sản phẩm ba lô của chị Lăng Thị H4 có tài khoản facebook là “Hạnh Hạnh”. Sau khi trao đổi, hai người kết bạn zalo (số điện thoại sử dụng zalo của Bùi Thị Vân A là 0976602128), thỏa thuận chị Lăng Thị H4 sẽ mua 1500 chiếc ba lô học sinh, giá mỗi chiếc là 62.000 đồng, với tổng số tiền 93.000.000 đồng. Ngay sau đó, chị Lăng Thị H4 đặt cọc 3.000.000 đồng, chuyển vào số tài khoản 0976602128, ngân hàng M của Bùi Thị Vân A. Khi chị Lăng Thị H4 trao đổi về cách thức vận chuyển hàng và lấy hàng, Bùi Thị Vân A cho chị Lăng Thị H4 địa chỉ kho hàng là số A, T, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Bùi Thị Vân A yêu cầu chị Lăng Thị H4 chuyển thêm 10.000.000 đồng tiền cọc thì mới giữ hàng. Chị Lăng Thị H4 đồng ý và đã chuyển cho Bùi Thị Vân A vào số tài khoản trên số tiền 10.000.000 đồng. Đến sáng ngày 16/7/2023, do muốn lấy nốt số tiền còn lại nên Bùi Thị Vân A đã nói dối chị Lăng Thị H4 là chồng của Bùi Thị Vân A đã đóng hàng theo như yêu cầu, đồng thời Bùi Thị Vân A lấy hình ảnh chụp kho hàng trên mạng gửi cho chị Lăng Thị H4 để lấy lòng tin. Khi thấy hình ảnh, chị Lăng Thị H4 tin tưởng là hàng đã được chuẩn bị xong nên đã chuyển số tiền 80.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng trên cho Bùi Thị Vân A. Toàn bộ số tiền nhận của chị Lăng Thị H4, Bùi Thị Vân A đã tiêu dùng cá nhân hết. Đồng thời, Bùi Thị Vân A đã khóa facebook, chặn zalo, tắt điện thoại để chị Lăng Thị H4 không thể liên lạc. Chị Lăng Thị H4 đã đến địa chỉ kho hàng tại địa chỉ như Bùi Thị Vân A cho nhưng khi đến thì không có kho hàng như trên. Chị Lăng Thị H4 đã tìm đến nhà Bùi Thị Vân A để đòi tiền, tuy nhiên Bùi Thị Vân A trốn tránh không chịu trả. Ngày 17/01/2024, chị Lăng Thị H4 đến Phòng an ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao Công an tỉnh L trình báo.
Mở rộng điều tra xác định, trước đó, Bùi Thị Vân A lập tài khoản facebook có tên “Bùi Thị T2" để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị Lê Thị Quỳnh N với nội dung: Ngày 27/7/2020, chị Lê Thị Quỳnh N sử dụng tài khoản facebook có tên “Quỳnh Nhung” đặt mua 04 thùng khẩu trang y tế với giá 14.000.000 đồng với người có tài khoản facebook “Bùi Thị T2”. Lúc này, Bùi Thị Vân A tự giới thiệu mình có kho hàng bán khẩu trang ở huyện N, tỉnh Thanh Hóa và cung cấp cho chị Lê Thị Quỳnh N số điện thoại 0962.302.xxx để liên lạc giao dịch. Ngày 27/7/2020, chị Lê Thị Quỳnh N đã chuyển 500.000 đồng vào số tài khoản 030064781339, ngân hàng S, tên chủ tài khoản Bùi Thị T2 để đặt cọc mua 04 thùng khẩu trang. Sáng ngày 28/7/2020, Bùi Thị Vân A yêu cầu phải chuyển hết tiền để giữ hàng. Do đang cần hàng, chị Lê Thị Quỳnh N đã chuyển hết số tiền 13.500.000 đồng vào số tài khoản 19033994252026, ngân hàng T5, chủ tài khoản tên Trịnh Duy H5 theo yêu cầu của Bùi Thị Vân A. Sau khi nhận được tiền, Bùi Thị Vân A đã chặn liên lạc với chị Lê Thị Quỳnh N. Chị Lê Thị Quỳnh N đã đến Công an huyện H, tỉnh Thanh Hóa để trình báo.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bùi Thị Vân A khai nhận cùng với thủ đoạn tương tự như trên, từ tháng 7/2023 đến tháng 12/2023 đã lừa đảo chiếm đoạt tiền của những người sau:
- Nguyễn Thị H1 số tiền 25.000.000 đồng.
- Phạm Cẩm T số tiền 4.700.000 đồng.
- Bùi Anh T1 số tiền 4.040.000 đồng.
- Vũ Công Đ1 số tiền 20.000.000 đồng.
- Đỗ Văn H2 số tiền 74.700.000 đồng.
- Nguyễn Thị H3 số tiền 5.280.000 đồng.
- Lương Thị V số tiền 28.980.000 đồng.
Ngoài ra, bị cáo còn thực hiện lừa đảo chiến đoạt tài sản của chị Nguyễn Thị L1 4.400.000 đồng, chị Phạm Thị Thanh L2 11.110.000 đồng, chị Trần Thị H6 6.300.000 đồng. Tuy nhiên quá trình điều tra xác định, chị Phạm Thị Thanh L2 và Trần Thị H6 không có mặt tại địa phương; chị Nguyễn Thị L1 không đăng ký cư trú theo địa chỉ đăng ký tài khoản ngân hàng nên không lấy được lời khai của những người này.
Tại cơ quan điều tra, các bị hại chị Nguyễn Thị H1, anh Bùi Anh T1, anh Vũ Công Đ1, anh Đỗ Văn H2, chị Nguyễn Thị H3, chị Lương Thị V khai đã chuyển tiền cho bị cáo Bùi Thị Vân A để đặt mua hàng, tuy nhiên không nhận được hàng và cũng chưa được trả lại tiền, yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền nêu trên. Chị Phạm Cẩm T khai bị Bùi Thị Vân A lừa đảo chiếm đoạt số tiền trên nhưng trong hồ sơ vụ án chưa có ý kiến của chị về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Chị Bùi Thị T2 là người đã cho Bùi Thị Vân A mượn số tài khoản 030064781339, ngân hàng S khai: Chị là bạn bè với Bùi Thị Vân A. Tháng 7 năm 2020, chị cho bị cáo mượn tài khoản này để giao dịch, chị có được nhận 500.000 đồng vào tài khoản, tuy nhiên chị đã trả số tiền này cho Bùi Thị Vân A bằng tiền mặt. Chị không biết số tiền chuyển đến này là tiền gì, không biết việc Bùi Thị Vân A thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Việc Bùi Thị Vân A có sử dụng tài khoản facebook tên là Bùi Thị T2 chị không biết.
Đối với anh Trịnh Duy H5 là chủ tài khoản số 19033994252026, ngân hàng T5 khai: Anh là bạn bè thân thiết của Bùi Thị Vân A, được Bùi Thị Vân A nhờ nhận số tiền 13.500.000 đồng từ chị Lê Thị Quỳnh N. Bùi Thị Vân A nói với anh đây là tiền hàng. Sau khi nhận tiền, anh đã chuyển số tiền 13.000.000 đồng cho bị cáo qua tài khoản ngân hàng, còn 500.000 đồng là tiền phí chuyển tiền mà Bùi Thị Vân A trả cho anh. Anh không biết số tiền này do Bùi Thị Vân A thực hiện hành vi lừa đảo để chiếm đoạt.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Thị Vân A thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên. Trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo sử dụng 03 chiếc điện thoại là 01 chiếc điện thoại Iphone XS màu đen; 01 điện thoại Iphone 15 màu hồng và 01 chiếc điện thoại Oppo F7 đã bị hỏng, bị cáo đã vứt ở đâu không biết. Bị cáo sử dụng 02 số điện thoại là 0976.078.xxx từ khoảng tháng 6 năm 2023 đến nay và số 0976602128 từ khoảng năm 2019 đến nay. Bị cáo tạo các tài khoản mạng xã hội facebook có tên “Anhi A1 (zero)” từ khoảng năm 2020, tài khoản Facebook "Kho Sỉ Giày” từ khoảng tháng 5/2023 (khoảng tháng 8/2023 đổi thành “Kho Sỉ Giày D”), tài khoản zalo "Yena” từ năm 2020 (khoảng tháng 5/2023 đổi thành “Kho Giày Lc”, khoảng tháng 9/2023 đổi thành “Kho Giày Hằng T4”); tài khoản Facebook “Bùi Thị T2” từ khoảng năm 2020. Bị cáo đăng ký, sử dụng 05 tài khoản ngân hàng gồm 02 tài khoản của M1 số 0976602128 và 0000894637626 từ khoảng năm 2020; 01 tài khoản ngân hàng V1 số 0976602128 từ khoảng tháng 9/2022; 01 tài khoản ngân hàng T6 0976078432 từ khoảng tháng 10/2023 đều mang tên BUI THI VAN ANH và 01 tài khoản S1 không nhớ số tài khoản (nhưng có trong máy Iphone XS) mang tên DINH VAN THUY. Các tài khoản này từ trước đến nay đều do một mình bị cáo sử dụng. Bị cáo sử dụng các tài khoản facebook để đăng bán các mặt hàng như giày, dép, túi xách, ba lô mà thực tế bị cáo không có. Hàng ngày bị cáo làm dịch vụ móng tay, móng chân, có thu nhập ổn định khoảng 15.000.000 đồng/tháng. Sau khi các bị hại chuyển tiền đặt cọc, tiền hàng vào tài khoản cho bị cáo thì bị cáo chặn số điện thoại và các tài khoản để họ không liên lạc với bị cáo được nữa.
Bị cáo đã thực hiện bồi thường cho chị Lăng Thị H4 số tiền 93.000.000 đồng; chị Lê Thị Quỳnh N số tiền 14.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo trình bày tự nguyện bồi thường cho chị Nguyễn Thị H1 số tiền 25.000.000 đồng; chị Phạm Cẩm T số tiền 4.700.000 đồng; anh Bùi Anh T1 số tiền 4.040.000 đồng; anh Vũ Công Đ1 số tiền 20.000.000 đồng; anh Đỗ Văn H2 số tiền 74.700.000 đồng; chị Nguyễn Thị H3 số tiền 5.280.000 đồng; chị Lương Thị V số tiền 28.980.000 đồng.
Đối với số tiền 500.000 đồng chị Lê Thị Quỳnh N chuyển khoản vào số tài khoản 030064781339, ngân hàng S, chủ tài khoản Bùi Thị T2 và số tiền 13.500.000 đồng vào số tài khoản 19033994252026, ngân hàng T5, chủ tài khoản Trịnh Duy H5 là tiền đặt cọc và mua 04 thùng khẩu trang. Chị Bùi Thị T2 và anh Trịnh Duy H5 đã chuyển trả lại số tiền này cho bị cáo. Những người này không biết việc bị cáo lừa đảo chiếm đoạt tiền của chị Lê Thị Quỳnh N.
Đối với số tài khoản 1022265356, ngân hàng S1, chủ tài khoản DINH VAN THUY, Bùi Thị Vân A khai số tài khoản này do bị cáo mua trên mạng giá 700.000 đồng với người có tên F là “Phuong Anh” từ tháng 8 năm 2023. Cơ quan điều tra Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn đã phối hợp với Ngân hàng S1 xác minh xác định: Chủ tài khoản họ tên Đinh Văn T3, SN 1990, trú tại thôn R, xã A, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Tuy nhiên, quá trình xác minh Đinh Văn T3 không có mặt tại địa phương, không rõ đi đâu, làm gì nên không tiến hành ghi lời khai làm rõ được. Hiện nay trong tài khoản này có số tiền 97.000.000 đồng là tiền do bị cáo thực hiện hành vi lừa đảo, chiếm đoạt của khách hàng mà có. Bị cáo đã sử dụng tài khoản này để lừa đảo chiếm đoạt tiền của anh Đỗ Văn H2, chị Nguyễn Thị H3, chị Lương Thị V, chị Trần Thị H6 và một số người khác nhưng bị cáo không nhớ cụ thể là giao dịch nào và từ ai chuyển cho. Toàn bộ số tiền có được do lừa đảo chiếm đoạt mà có, bị cáo đã sử dụng tiêu dùng cá nhân, chỉ còn lại 97.000.000 đồng trong tài khoản ngân hàng S1 nêu trên.
Đối với các điện thoại bị thu giữ gồm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS, màu đen, bên trong lắp 01 sim Viettel số 0976.602.xxx và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15, màu hồng, bên trong lắp 01 sim Viettel số 0976.078.xxx, bị cáo khai đã dùng tiền chiếm đoạt được để mua các điện thoại này để sử dụng vào hành vi phạm tội. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Tại cáo trạng số 71/CT-VKSVL ngày 16/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Bùi Thị Vân A về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, phát biểu quan điểm: Do tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo; chủ động bồi thường thiệt hại cho các bị hại và tham gia đóng góp, hỗ trợ cho hội chất độc màu da cam nên áp dụng điểm a khoản 3, khoản 5 Điều 174; Điều 38, Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Bùi Thị Vân A từ 08 đến 09 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng do bị cáo có thu nhập ổn định.
Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bị cáo Bùi Thị Vân A đã trả cho chị Lăng Thị H4 số tiền 93.000.000 đồng; chị Lê Thị Quỳnh N số tiền 14.000.000 đồng. Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo trả lại cho chị Phạm Cẩm T số tiền 4.700.000 đồng. Buộc bị cáo phải trả lại cho chị Nguyễn Thị H1 số tiền 25.000.000 đồng; anh Bùi Anh T1 số tiền 4.040.000 đồng; anh Vũ Công Đ1 số tiền 20.000.000 đồng; anh Đỗ Văn H2 số tiền 74.700.000 đồng; chị Nguyễn Thị H3 số tiền 5.280.000 đồng; chị Lương Thị V số tiền 28.980.000 đồng. Đối với chị Phạm Thị Thanh L2 và chị Trần Thị H6 không có mặt tại địa phương, chị Nguyễn Thị L1 không đăng ký nơi cư trú theo địa chỉ đăng ký tài khoản ngân hàng nên không lấy được lời khai, do đó không có căn cứ xử lý.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, đề nghị tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS, màu đen, bên trong lắp 01 sim Viettel số 0976.602.xxx; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15, màu hồng, bên trong lắp 01 sim Viettel số 0976.078.xxx; tạm giữ số tiền 97.000.000 đồng trong tài khoản ngân hàng S1 để trả lại cho các bị hại. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo hỏi han về hành vi phạm tội của mình và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Tại phiên tòa, các bị hại và những người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra, sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng này không gây trở ngại đến việc xét xử, giải quyết vụ án nên căn cứ khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.
- [3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ căn cứ kết luận: Từ tháng 7/2020 đến tháng 12/2023, bị cáo Bùi Thị Vân A đã nhiều lần có hành vi sử dụng thủ đoạn gian dối là dùng các tài khoản facebook để đăng bán các mặt hàng như giày, dép, túi xách, ba lô mà thực tế bị cáo không có. Sau khi các bị hại chuyển tiền đặt cọc, tiền hàng vào các tài khoản ngân hàng cho bị cáo thì bị cáo chặn số điện thoại và các tài khoản để họ không liên lạc được với bị cáo nữa nhằm chiếm đoạt tài sản. Tổng số tiền bị cáo đã thực hiện chiếm đoạt là 269.700.000 đồng, cụ thể: Bị cáo chiếm đoạt của chị Lăng Thị H4 93.000.000 đồng; chị Lê Thị Quỳnh N 14.000.000 đồng; chị Phạm Cẩm T 4.700.000 đồng; chị Nguyễn Thị H1 25.000.000 đồng; anh Bùi Anh T1 4.040.000 đồng; anh Vũ Công Đ1 20.000.000 đồng; anh Đỗ Văn H2 74.700.000 đồng; chị Nguyễn Thị H3 5.280.000 đồng; chị Lương Thị V 28.980.000 đồng. Đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Bùi Thị Vân A đối với chị Nguyễn Thị L1, chị Phạm Thị Thanh L2 và chị Trần Thị H6, ngoài lời khai của bị cáo không có chứng cứ nào khác chứng minh hành vi này là tội phạm nên không có căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự.
- [4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.
- [5] Do đó, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Bùi Thị Vân A phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo là có căn cứ.
- [6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội, thuộc trường hợp phạm tội hai lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- [7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Mặc dù trong quá trình điều tra bị cáo nhiều lần thay đổi lời khai. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo. Bị cáo đã chủ động bồi thường thiệt hại cho các bị hại và tham gia đóng góp, hỗ trợ cho Hội chất độc màu da cam. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo để bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
- [8] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật.
- [9] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề lao động tự do, có thu nhập. Do vậy, cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
- [10] Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Xét lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp nên được chấp nhận.
- [11] Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS, màu đen, bên trong lắp 01 sim Viettel số 0976.602.xxx và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15, màu hồng, bên trong lắp 01 sim Viettel số 0976.078.xxx; tạm giữ số tiền 97.000.000 đồng để trả lại cho các bị hại theo quy định tại điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Đối với 01 chiếc điện thoại Oppo F7 bị hỏng, bị cáo đã vứt đi, quá trình điều tra không tìm được nên không có căn cứ xử lý.
- [12] Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận bị cáo Bùi Thị Vân A đã trả lại cho chị Lăng Thị H4 số tiền 93.000.000 đồng; chị Lê Thị Quỳnh N số tiền 14.000.000 đồng. Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường cho chị Phạm Cẩm T số tiền 4.700.000 đồng. Buộc bị cáo phải trả lại cho chị Nguyễn Thị H1 số tiền 25.000.000 đồng; anh Bùi Anh T1 số tiền 4.040.000 đồng; anh Vũ Công Đ1 số tiền 20.000.000 đồng; anh Đỗ Văn H2 số tiền 74.700.000 đồng; chị Nguyễn Thị H3 số tiền 5.280.000 đồng; chị Lương Thị V số tiền 28.980.000 đồng. Bị cáo phải chịu lãi chậm trả theo quy định.
- [13] Bị cáo bị kết án và phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho các bị hại số tiền 162.700.000 đồng nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 8.135.000 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- [14] Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 3, khoản 5 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 50; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 292; khoản 1 Điều 293; khoản 1 Điều 331; Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh
Tuyên bố bị cáo Bùi Thị Vân A phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
2. Về hình phạt
Xử phạt bị cáo Bùi Thị Vân A 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 19/01/2024 đến ngày 15/4/2024.
Phạt bổ sung bị cáo Bùi Thị Vân A số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.
3. Trách nhiệm dân sự
Bị cáo Bùi Thị Vân A có trách nhiệm trả cho các bị hại:
- - Chị Nguyễn Thị H1: Số tiền 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng;
- - Chị Phạm Cẩm T: Số tiền 4.700.000 (bốn triệu bảy trăm nghìn) đồng;
- - Anh Bùi Anh T1: Số tiền 4.040.000 (bốn triệu không trăm bốn mươi nghìn) đồng;
- - Anh Vũ Công Đ1: Số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng;
- - Anh Đỗ Văn H2: Số tiền 74.700.000 (bảy mươi tư triệu bảy trăm nghìn) đồng;
- - Chị Nguyễn Thị H3: Số tiền 5.280.000 (năm triệu hai trăm tám mươi nghìn) đồng;
- - Chị Lương Thị V: Số tiền 28.980.000 (hai mươi tám triệu chín trăm tám mươi nghìn) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền phải thi hành án, mà người phải thi hành án chậm thi hành án, thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả được quy định tại Điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
4. Xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp
4.1. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:
- - 01 (một) điện thoại đi động nhãn hiệu Iphone XS, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI1: 353168101222824; bên trong gắn 01 (một) sim điện thoại Viettel, số IMEI2: 353168101034229 (không kiểm tra được do không mở được điện thoại).
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15, màu hồng, đã qua sử dụng, số IMEI1: 352016946856119; bên trong gắn 01 (một) sim điện thoại Viettel, số IMEI2: 352016947018784.
(Các vật chứng trên hiện lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 13/9/2024).
4.2. Tạm giữ số tiền 97.000.000 (chín mươi bảy triệu) đồng để trả cho các bị hại nêu tại mục 3 quyết định của bản án này.
(Số tiền trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn theo Ủy nhiệm chi số 34; năm NS:2024; ngày 16/9/2024 của Kho bạc Nhà nước huyện V, tỉnh Lạng Sơn).
5. Án phí
Bị cáo Bùi Thị Vân A phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 8.135.000 (tám triệu một trăm ba mươi lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước.
6. Quyền kháng cáo
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (16/9/2024). Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 74/2024/HS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 74/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Từ tháng 7/2020 đến tháng 12/2023, bị cáo Bùi Thị Vân A đã nhiều lần có hành vi sử dụng thủ đoạn gian dối là dùng các tài khoản facebook để đăng bán các mặt hàng như giày, dép, túi xách, ba lô mà thực tế bị cáo không có. Sau khi các bị hại chuyển tiền đặt cọc, tiền hàng vào các tài khoản ngân hàng cho bị cáo thì bị cáo chặn số điện thoại và các tài khoản để họ không liên lạc được với bị cáo nữa nhằm chiếm đoạt tài sản. Tổng số tiền bị cáo đã thực hiện chiếm đoạt là 269.700.000 đồng.
