Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 74/2024/DS-ST

Ngày: 26-8-2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hải

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Hường

Ông Trần Xuân Thành

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hương Ly - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 148/TB-TLVA ngày 03 tháng 06 năm 2024 về việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124 ngày 08 tháng 08 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 23/2024/QĐ-ST ngày 09 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q1; Địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà S - AP, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Châu Văn T- Cán bộ xử lý nợ (Có mặt)

Bị đơn:

  1. Ông Đàm Quang H, sinh năm 1982; ĐKNKTT tại: Xóm N, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An, hiện đang ở nước ngoài (Vắng mặt).
  2. Bà Đậu Thị T1, sinh năm: 1994; ĐKNKTT tại: Xóm N, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An (có mặt)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1956, (Vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt) và ông Đàm Văn P, sinh năm 1948. Đều trú tại: Xóm N, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 30/10/2023 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q1 có người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng trình bày:

Ngân hàng TMCP Q1 (Viết tắt Q1) cho ông Đàm Quang H và bà Đậu Thị T1 vay vốn theo các Hợp đồng tín dụng cụ thể như sau:

Hợp đồng tín dụng số: 5585024.22 ký ngày 18/01/2022 với nội dung: VIB cho ông Đàm Quang H và bà Đậu Thị T1 vay số tiền 1.500.000.000 đồng; Mục đích vay vốn: Bổ sung vốn kinh doanh buôn bán tạp hóa. Thời hạn vay: 12 tháng từ ngày: 29/12/2022 đến 28/12/2023. Lãi suất và kỳ điều chỉnh lãi suất: Lãi suất tại thời điểm giải ngân: 13.5%/năm. Lãi suất này sẽ được Q1 chủ động điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở cộng biên độ 4.2%/năm. Hoàn trả khoản tín dụng gốc: Cuối kỳ, trả lãi: Ngày 23 hàng tháng, ngày trả lãi đầu tiên là ngày 23/01/2023. Trả phí: Theo quy định của Q1 từng thời kỳ. Ngày 28/12/2022 Q1 đã giải ngân cho ông Đàm Quang H và bà Đậu Thị T1 theo đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: 5585024(2).22 ký ngày 28/12/2022 với số tiền 1.500.000.000 đồng.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay bao gồm:

  • - Toàn bộ “Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 1225, tờ bản đồ số: 5 xã Đ địa chỉ: Xóm N, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CL 388602, số vào sổ cấp GCN: CH 02521 do UBND huyện Y, tỉnh Nghệ An cấp ngày 08/02/2018 cho ông Đàm Quang H và bà Đậu Thị T1”. Tài sản này được thế chấp tại VIB theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 7688253.22 ký ngày 18/01/2022, số công chứng: 718/2022, quyển số: 01TP/CC-SCC/HĐGD do văn phòng C, địa chỉ: K, Thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An công chứng ngày 18/01/2022;
  • - Toàn bộ “Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 1226, tờ bản đồ số: 5 xã Đ địa chỉ: Xóm N, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CL 388603, số vào sổ cấp GCN: CH 02522 do UBND huyện Y, tỉnh Nghệ An cấp ngày 08/02/2018. Chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Đàm Quang H và bà Đậu Thị T1 theo hồ sơ số 0197.CN.001 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Y xác nhận ngày 05/02/2021”. Tài sản này được thế chấp tại VIB theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 4815844.22 ký ngày 18/01/2022, số công chứng: 719/2022, quyển số: 01TP/CC-SCC/HĐGD do văn phòng C, địa chỉ: K, Thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An công chứng ngày 18/01/2022.

Việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

Quá trình thực hiện hợp đồng ông Đàm Quang H và bà Đậu Thị T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi suất theo nội dung thỏa thuận tại các HĐTD đã ký. Vì vậy, Q1 đã chuyển khoản vay thành khoản nợ quá hạn từ ngày 23/08/2023.

Tạm tính đến ngày 09/08/2024, ông Đàm Quang H và bà Đậu Thị T1 đã trả cho Q1 số tiền tổng cộng là: 85.246.298 đồng (trong đó: nợ gốc: 0 đồng, nợ lãi: 84.936.146 đồng, nợ lãi quá hạn: 310.152 đồng).

Ông Đàm Quang H và bà Đậu Thị T1 đã trốn tránh không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi đúng hạn theo kỳ hạn đã cam kết trong các hợp đồng tín dụng nêu trên. Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

  1. Buộc ông Đàm Quang H và bà Đậu Thị T1 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q1 ngay sau khi Bản án/Quyết định có hiệu lực thi hành, số tiền tính đến ngày 26/8/2024 là:
    • + Tiền gốc: 1.500.000.000đ (Một tỷ, năm trăm triệu đồng) ;
    • + Tiền lãi trong hạn: 113.803.581 (Một trăm mười ba triệu, tám trăm lẻ ba ngàn, năm trăm tám mươi mốt ngàn đồng)
    • + Tiền lãi quá hạn: 203.127.997 đồng (Hai trăm lẻ ba triệu, một trăm hai mươi bảy ngàn, chín trăm chín mươi bảy đồng).

    Tổng số tiền cả gốc và lãi là: 1.816.931.578 đồng (Một tỷ, tám trăm mười sáu triệu, chín trăm ba mươi mốt ngàn, năm trăm bảy mươi tám đồng)

    Ông Đàm Quang H và bà Đậu Thị T1 tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 5585024.22, kể từ ngày tiếp theo của ngày Tòa án ra bản án/quyết định cho đến ngày thực tế thanh toán toàn bộ khoản vay.

  2. Trong trường hợp ông Đàm Quang H và bà Đậu Thị T1 không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Q1, đề nghị Tòa án tuyên Ngân hàng TMCP Q1 có quyền tự phát mại tài sản bảo đảm hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại các tài sản bảo đảm bao gồm quyền sử dụng đất và toàn bộ vật phụ, trang thiết bị kèm theo và phần giá trị công trình, diện tích cải tạo, đầu tư xây dựng thêm gắn liền với diện tích nhà đất đã thế chấp để thu hồi nợ vay cho Q1.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho bên vay vốn với Q1. Trường hợp nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết nợ thì bên vay vốn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng Q1.

Đối với bị đơn ông Đàm Quang H:

Do ông Đàm Quang H đã đi khỏi nơi cư trú theo hợp đồng ban đầu nên hiện tại nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ của ông Đàm Quang H cho Tòa án. Tại Công văn số 34283/QLXNC-P3 ngày 20/12/2023 của Cục Q2 - Bộ C1 xác định ông Đàm Quang H đã xuất cảnh ngày 05/06/2023 hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Tòa án đã tiến hành niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với ông Đàm Quang H nhưng ông H không trình bày lời khai về yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q1; vắng mặt trong các phiên họp công khai chứng cứ và hoà giải cũng như phiên tòa sơ thẩm.

Theo bản tự khai ngày 9 tháng 8 năm 2023 chị Đậu Thị T1 trình bày: Vào tháng 1 năm 2022 chị và chồng chị là anh Đàm Quang H có vay của Q1 số tiền là 1,5 tỷ đồng đồng thời hạn vay 12 tháng lãi suất 13,5% lãi suất điều chỉnh 3 tháng 1 lần trả lãi ngày 23 hàng tháng. Tài sản thế chấp gồm 2 thửa đất và tài sản trên đất như ngân hàng trình bày là đúng. Từ đó đến nay do hoàn cảnh khó khăn nên không trả lãi. Đến tháng 1 năm 2024 nợ đã quá hạn và chị chưa trả lãi gốc. Nay ngân hàng khởi kiện thì chị đồng ý với ngân hàng trình bày. Do hoan cảnh khó khăn nên mong ngân hàng giãn nợ cho chị xin được trả dần. Hiện nay chồng chị đang ở nước Đức nhưng không có địa chỉ cụ thể và vẫn liên lạc với chị hàng ngày qua điện thoại. Chị cũng đã thông báo các văn bản tố tụng của Tòa án cho chồng chị và chồng chị mong muốn được giãn nợ để làm việc tích lũy về trả nợ

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1 trình bày: Bà có một thửa đất ở xóm N, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Thửa đất chia làm 3 phần đã chuyển nhượng cho 2 người con trai là Đàm Quang H và Đàm Quang H2. Sau đó, anh Đàm Quang H2 đã chuyển nhượng lại cho vợ chồng chị T1, anh H thửa 1226. Cuối năm 2018 bà sửa nhà trên thửa đất 1226 diện tích 189m² để hai vợ chồng ở. Nhà hiện tại đã được xây dựng trước thời điểm chị T1, anh H nhận chuyển nhượng. Đối với việc ngân hàng khởi kiện anh H chị T1 cũng như phát mại các tài sản bảo đảm thì bà không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm nghị án và tại phiên tòa được thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đảm bảo về thời hạn chuẩn bị xét xử.

Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bị đơn ông Đàm Quang H bà Đậu Thị T1 có trách nhiệm trả cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q1 (Q1) số tiến vay tính đến ngày xét xử sơ thẩm là

  • + Tiền gốc: 1.500.000.000đ (Một tỷ, năm trăm triệu đồng) ;
  • + Tiền lãi trong hạn: 113.803.581 (Một trăm mười ba triệu, tám trăm lẻ ba ngàn, năm trăm tám mươi mốt ngàn đồng)
  • + Tiền lãi quá hạn: 203.127.997 đồng (Hai trăm lẻ ba triệu, một trăm hai mươi bảy ngàn, chín trăm chín mươi bảy đồng).

Tổng số tiền cả gốc và lãi là: 1.816.931.578 đồng (Một tỷ, tám trăm mười sáu triệu, chín trăm ba mươi mốt ngàn, năm trăm bảy mươi tám đồng) và tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 5585024.22, kể từ ngày tiếp theo của ngày Tòa án ra bản án/quyết định cho đến ngày thực tế ông Đàm Quang H bà Đậu Thị T1 trả nợ gốc cho Q1 .

Trường hợp ông Đàm Quang H bà Đậu Thị T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP Q1 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm của ông Đàm Quang H bà Đậu Thị T1 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp phải xử lý tài sản thế chấp thì dành cho gia đình ông Đàm Văn P và Bà Nguyễn Thị H1 được quyền thoả thuận với Ngân hàng Q1 và ưu tiên mua thửa đất số 1226, tờ bản đồ số 5, địa chỉ: Xóm N, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp về hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông Đàm Quang H đã xuất cảnh vào ngày 26/07/2023, chưa có thông tin nhập cảnh (Công văn số 34284 của Cục Q2). Như vậy, căn cứ vào khoản 3 Điều 35, Điều 37 BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về yêu cầu ông Đàm Quang H bà Đậu Thị T1 phải trả nợ gốc và nợ lãi phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 5585024.22 ngày 18/1/2022.

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định: Giữa Ngân hàng TMCP Q1 và cầu ông Đàm Quang H bà Đậu Thị T1 có xác lập Hợp đồng tín dụng số 5585024.22 ngày 18/1/2022. Hợp đồng do các bên xác lập với số tiền vay 1.500.000.000 đồng; thời hạn vay là 12 tháng, phương thức cho vay theo hạn mức, mục đích vay để kinh doanh xe máy điện, lãi suất 13.5%/năm, lãi suất này được Q1 chủ động điều chỉnh 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 4.2%/năm; Ngân hàng đã giải ngân cho bên vay tổng cộng 1.500.000.000 đồng.

Thỏa thuận giữa hai bên là hoàn toàn tự nguyện và tuân thủ đúng các quy định của pháp luật cả về nội dung và hình thức hợp đồng. Mặc dù tại phiên tòa bị đơn ông Đàm Quang H vắng mặt nhưng căn cứ vào lời trình bày của chị Đậu Thị T1 (vợ), các chứng cứ nguyên đơn xuất trình, Tòa án công nhận hợp đồng tín dụng giữa hai bên là có thật và hợp pháp.

Về tiền nợ gốc: Tiền gốc khi vay là 1.500.000.000đ (Một tỷ, năm trăm triệu đồng), ông Đàm Quang H và bà Đậu Thị Thu thanh T2 được 85.936.146 đồng tiền lãi và toàn bộ khoản vay bị chuyển nợ quá hạn từ ngày 23/08/2023. Vì vậy, cần buộc ông Đàm Quang H và bà Đậu Thị T1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Q1 số tiền gốc còn lại 1.500.000.000 đồng như nguyên đơn yêu cầu.

Về lãi suất: Lãi suất 13.5%/năm, lãi suất này được Q1 chủ động điều chỉnh 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 4.2%/năm. Thỏa thuận về lãi suất giữa hai bên là phù hợp với quy định Bộ luật dân sự và Luật các tổ chức tín dụng, bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ lãi, từ đó tính lãi quá hạn. Xét số tiền lãi bị đơn cần phải thanh toán, Ngân hàng Q1 tính đúng theo Hợp đồng tín dụng nên buộc Ông Đàm Quang H và bà Đậu Thị T1 phải thanh toán tiền lãi trong hạn và lãi quá hạn theo yêu cầu của Ngân hàng là có căn cứ.

[2.2] Về yêu cầu xử lý hợp đồng thế chấp trong trường hợp các bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Các hợp đồng thế chấp gồm: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 7688253.22, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 4815844 thể hiện vợ chồng ông Đàm Quang H3 bà Đậu Thị T1 đã đồng ý ký thế chấp Toàn bộ “Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 1225, tờ bản đồ số: 5 xã Đ địa chỉ: Xóm N, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CL 388602, số vào sổ cấp GCN: CH 02521 do UBND huyện Y, tỉnh Nghệ An cấp ngày 08/02/2018 cho ông Đàm Quang H và bà Đậu Thị T1”;

Toàn bộ “Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 1226, tờ bản đồ số: 5 xã Đ địa chỉ: Xóm N, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CL 388603, số vào sổ cấp GCN: CH 02522 do UBND huyện Y, tỉnh Nghệ An cấp ngày 08/02/2018, để đảm bảo cho các khoản vay

Tài sản thế chấp đều thuộc quyền sở hữu, sử dụng của các bị đơn và hợp đồng thế chấp đều được công chứng, chứng thực hợp pháp, đồng thời tài sản thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm, có hình thức và nội dung phù hợp theo quy định pháp luật nên phát sinh hiệu lực đối với các bên, vì vậy, nguyên đơn yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là có cơ sở; phù hợp theo quy định tại các Điều 317, 318, 319, 323 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về xử lý tài sản thế chấp khi các bị đơn không trả được khoản nợ.

[2.3] Đối với thửa đất 1226, theo chị T1 và Bà Nguyễn Thị H1 trình bày hiện nay bố mẹ chồng chị là bà Nguyễn Thị H1 và ông Đàm Văn P đang ở. Ngôi nhà cấp 4 do ông P và Bà H1 xây dựng trước khi chuyển nhượng cho vợ chồng chị. Quá trình giải quyết Bà H1 không có ý kiến gì đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp. Ông P vắng mặt không có ý kiến gì. Do vậy, trường hợp phải xử lý tài sản thế chấp thì dành cho gia đình ông P và Bà H1 được quyền thoả thuận với Ngân hàng Q1 và ưu tiên mua nếu có nhu cầu mua đối với phần diện tích thửa đất trên có phần nhà của gia đình ông P, bà H1 là phù hợp Điều 325 BLDS 2015 và Án lệ số 11/2017 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối Cao.

[3] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ngân hàng Q1 đã nộp đầy đủ, không yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.

[4] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền nguyên đơn yêu cầu được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng khoản 1 Điều 30, Điều 34, Điều 37, Điều 41, Điều 227, 228 BLTTDS; Điều 463 và 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 7, 8 ,12 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019; Điều 299, 303, 307, 317, 318, 319, 320, 321, 323, khoản 1 Điều 326, Điều 327 của Bộ luật Dân sự năm 2015Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 35, Điều 37; các Điều 147, 158, 227, 228, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q1 (Q1).

Buộc ông Đàm Quang H bà Đậu Thị T1 có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Q1 (tính đến ngày 26/8/2024) các khoản sau:

  • + Tiền gốc: 1.500.000.000đ (Một tỷ, năm trăm triệu đồng) ;
  • + Tiền lãi trong hạn: 113.803.581 (Một trăm mười ba triệu, tám trăm lẻ ba ngàn, năm trăm tám mươi mốt ngàn đồng)
  • + Tiền lãi quá hạn: 203.127.997 đồng (Hai trăm lẻ ba triệu, một trăm hai mươi bảy ngàn, chín trăm chín mươi bảy đồng).

Tổng số tiền cả gốc và lãi là: 1.816.931.578 đồng (Một tỷ, tám trăm mười sáu triệu, chín trăm ba mươi mốt ngàn, năm trăm bảy mươi tám đồng)

Nếu bị đơn ông Đàm Quang H bà Đậu Thị T1 không trả nợ hoặc trả không đủ thì xử lý tài sản bảo đảm tiền vay là:

Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 1225, tờ bản đồ số: 5 xã Đ địa chỉ: Xóm N, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CL 388602, số vào sổ cấp GCN: CH 02521 do UBND huyện Y, tỉnh Nghệ An cấp ngày 08/02/2018 cho ông Đàm Quang H và bà Đậu Thị Thu

Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 1226, tờ bản đồ số: 5 xã Đ địa chỉ: Xóm N, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CL 388603, số vào sổ cấp GCN: CH 02522 do UBND huyện Y, tỉnh Nghệ An cấp ngày 08/02/2018. Chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Đàm Quang H và bà Đậu Thị T1 theo hồ sơ số 0197.CN.001 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Y xác nhận ngày 05/02/2021.

Trường hợp phải xử lý tài sản thế chấp thửa đất số 1226 nêu trên thì dành cho gia đình ông Đàm Văn P và bà Nguyễn Thị H1 được quyền thoả thuận với Ngân hàng TMCP Q1 (Q1) và ưu tiên mua nếu có nhu cầu mua đối với thửa đất 1226. Trường hợp không thoả thuận được thì Ngân hàng Q1 có toàn quyền xử lý tài sản đối với thửa 1226.

Ông Đàm Quang H bà Đậu Thị T1 phải tiếp tục chịu chịu lãi đối với nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm cho đến ngày thanh toán xong nợ gốc.

Trong trường hợp Ông Đàm Quang H bà Đậu Thị T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Q1, Ngân hàng TMCP Q1 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại các tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Trường hợp nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán hết nợ thì bên vay vốn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho ngân hàng Q1.

Trong trường hợp Ông Đàm Quang H bà Đậu Thị T1 đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có trách nhiệm trả lại toàn bộ giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thế chấp cho ông H, Bà T1.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 buộc ông Đàm Quang Hbà Đậu Thị T1 phải chịu 66.480.000 (sáu mươi sáu triệu, bốn trăm tám mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Ngân hàng TMCP Q1 (hai mươi chín triệu bốn trăm mười lăm nghìn chín trăm tám mươi tư đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành theo biên lai thu tiền số 0002387 ngày 27 tháng 11 năm 2023

3. Bị đơn bà Đậu Thị T1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1 và ông Đàm Văn P vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Bị đơn ông Đàm Quang H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Mỹ Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2024/DS-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 74/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng Ngân hàng Q- Đàm Quang H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger