Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HẢI HẬU

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2024/HS-ST

Ngày: 26-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Ngô Thị Hoè.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lưu Văn Đê – Nguyên Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực (đã nghỉ hưu).

Bà Trần Thị Phượng – Hội trưởng Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Hải Long, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị T - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 69/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Phạm Xuân S, sinh năm 2002; nơi sinh và nơi cư trú: Xóm C, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn C, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị Phương T1, sinh năm 1980; gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là thứ hai; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/5/2024 đến ngày 05/7/2024 thì được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh".

- Bị hại: Cháu Hoàng Thị Thúy Q, sinh ngày 21/8/2008. Nơi cư trú: Xóm H, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Đoàn Thị X, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Xóm H, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu Q: Bà Bùi Tố Q1 – Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Văn C, sinh năm 1972. Nơi cư trú: Xóm C, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.

- Người làm chứng: Anh Hoàng Văn B, sinh năm 1992.

- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Sơn H, sinh năm 1968.

(Tại phiên tòa có mặt bị cáo S, cháu Q, chị X, bà Q1, ông C, anh B; vắng mặt ông H).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 5/2024, Phạm Xuân S làm quen, kết bạn với cháu Hoàng Thị Thúy Q qua mạng xã hội Falo. S sử dụng số điện thoại 0559.648.xxx, đăng nhập tài khoản Zalo “H” bằng điện thoại hiệu Redmi note 9s của S kết bạn với tài khoản Zalo “Thúy Quỳnh” của cháu Q. Từ đó, S và cháu Q thường xuyên nhắn tin qua lại, nảy sinh quan hệ tình cảm muốn gắn bó với nhau.

Ngày 24/5/2024, S nhắn tin rủ cháu Q đi chơi. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, biển kiểm soát (BKS) 18B2-056.93 đi từ nhà ở xóm C, xã N, huyện N đến nhà cháu Q thì thấy cháu Q đang đứng trước cổng đợi. S nói với Q: Kiếm chỗ nào vắng người để nói chuyện; Q đạp xe đi trước, S điều khiển xe mô tô đi sau. Khi đi đến đoạn đường bê tông giữa cánh đồng thuộc xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định, Q dừng lại. S điều khiển xe mô tô vào mép đường bên trái theo hướng di chuyển rồi tắt máy, dựng chân chống xe, cháu Q lên xe mô tô ngồi ở vị trí người lái, S ngồi phía sau cháu Q. S dùng 02 tay ôm eo của cháu Q và nói “Cho anh sờ bóp vú tý nhé”, cháu Q gật đầu đồng ý, S dùng hai tay luồn từ phần dưới bụng vào bên trong xoa, bóp hai bên vú cháu Q. Tiếp đó, S dùng tay phải luồn vào trong quần đùi và quần lót của cháu Q vuốt ve bên ngoài âm đạo rồi dùng ngón trỏ đưa ra đưa vào bên trong âm đạo của cháu Q để kích thích và nói “cho anh quan hệ tý nhé”, Q gật đầu đồng ý. S tự kéo quần của mình xuống, Q chủ động đổi tư thế ngồi quay người lại, mặt quay về phía đuôi xe đồng thời kéo quần đang mặc xuống. S trèo lên phần đuôi sau yên xe, tay trái ôm eo, hôn môi cháu Q rồi đưa dương vật đang cương cứng vào sâu bên trong âm đạo của Q quan hệ tình dục. Khoảng 05 phút sau, S và Q đổi tư thế quan hệ, cháu Q ngồi trên yên xe, đưa hai chân về bên trái xe, tay phải chống về phía đầu xe, tay trái chống về phía đuôi xe còn S đứng ở dưới đất hai tay ôm hông cháu Q rồi đưa dương vật vào trong âm đạo cháu Q để quan hệ.

Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, khi S và cháu Q đang quan hệ tình dục với nhau thì bị anh Hoàng Văn B và Công an xã H phát hiện bắt quả tang.

Tại kết luận giám định xâm hại tình dục số 31/KLKNTD-TTGĐYK&PY ngày 31/05/2024, Trung tâm giám định y khoa và pháp y tỉnh H kết luận: Màng trinh rách cũ ở vị trí 1 giờ, 3 giờ và 9 giờ; trên cơ thể và bộ phận sinh dục ngoài của Hoàng Thị Thúy Q không thấy tổn thương do ngoại lực; không thấy hình ảnh tinh trùng trên phiến đồ âm đạo.

Bản kết luận giám định pháp y số 32/KLKNTD-TTGĐYK&PY ngày 31/05/2024, Trung tâm giám định y khoa và pháp y tỉnh H giám định pháp y tình dục đối với Phạm Xuân S kết luận: Tại thời điểm giám định đủ khả năng cương cứng dương vật để quan hệ tình dục.

Bản kết luận giám định số 1063/KL-KTHS ngày 18/6/2024, Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Không phát hiện thấy dấu vết bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong toàn bộ mẫu cần giám định.

Cáo trạng số 72/CT-VKSHH ngày 08/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố bị cáo Phạm Xuân S về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại khoản 1 Điều 145 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo công nhận đã thực hiện hành vi phạm tội, ăn năn hối cải, xin lỗi và đề nghị được tiếp tục duy trì mối quan hệ tình cảm với bị hại. Bị hại xác định: Do có tình cảm với bị cáo nên bị hại đã tự nguyện quan hệ tình dục với bị cáo. Bị hại cũng mong muốn tiếp tục duy trì mối quan hệ với bị cáo nên không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được cải tạo tại địa phương. Đại diện hợp pháp của bị hại nhất trí ý kiến trình bày của bị hại. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn C đề nghị được nhận lại tài sản thuộc sở hữu hợp pháp là chiếc xe mô tô BKS 18B2-056.93.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu giữ quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân S phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Áp dụng khoản 1 Điều 145; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Xuân S từ 15 tháng đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và xử lý vật chứng đã thu giữ, chưa xử lý trong quá trình điều tra.

Luận cứ bảo vệ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trình bày: Tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi giao cấu thì bị hại cháu Hoàng Thị Thúy Q mới 15 tuổi 09 tháng 03 ngày, độ tuổi còn hạn chế về nhận thức. Hành vi của bị cáo đã làm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về thể chất và tâm sinh lý của bị hại. Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã ăn năn hối cải, tự nguyện xin lỗi gia đình bị hại và được gia đình bị hại chấp nhận tha thứ nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tranh luận tại phiên tòa: Bị cáo; bị hại; người đại diện hợp cho bị hại; người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận.

Nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, người làm chứng; kết luận giám định pháp y về tình dục và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Do có quan hệ tình cảm từ tháng 5/2024 nên khoảng 21 giờ 30 phút ngày 24/5/2024, tại khu vực cánh đồng lúa thuộc xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định, Phạm Xuân S đã thực hiện hành vi quan hệ tình dục với cháu Hoàng Thị Thúy Q thì bị phát hiện bắt quả tang. Thời điểm S quan hệ tình dục với cháu Q, cháu Q 15 tuổi 09 tháng 03 ngày. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 145 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[4] Xét tính chất mức độ, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Xét hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi giao cấu với người dưới 16 tuổi của bị cáo không những xâm phạm đến thân thể, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, gây ảnh hưởng đến tâm sinh lý của người chưa đủ tuổi thành niên mà còn ảnh hưởng đến văn hóa, thuần phong mỹ tục, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo, nhằm trừng trị giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

Bị cáo không có tiền án, tiền sự, là người có nhân thân tốt. Trong vụ án này, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại đều xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bố đẻ bị cáo ông Phạm Văn C bị bệnh u gan thường xuyên phải khám và điều trị tại bênh viện, mẹ bị cáo sức khỏe yếu, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo có đơn đề nghị được chính quyền địa phương xác nhận. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Hành vi của bị cáo xuất phát từ mối quan hệ tình cảm yêu đương với bị hại; bị hại tự nguyện và mong muốn giữ gìn tình cảm với bị cáo. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ; có nơi cư trú rõ ràng; trong thời gian được tại ngoại tại địa phương, bị cáo và gia đình không vi phạm cam kết, thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Nhà nước và quy định của địa phương nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của gia đình và chính quyền địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại là phù hợp, đảm bảo mục đích của hình phạt.

[6] Về hình phạt bổ sung: Khoản 4 Điều 145 Bộ luật Hình sự quy định: Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Xét bị cáo làm nghề tự do, không có công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo Phạm Xuân S phải bồi thường nên bị cáo không phải bồi thường cho bị hại.

[8] Xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra xác định, bị cáo sử dụng chiếc điện thoại di động hiệu Redmi note 9s và các sim số thuê bao 0353.998.110 và 0559.648.617 để cài đặt tài khoản Zalo liên lạc với bị hại thực hiện hành vi phạm tội. Tại phiên tòa, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu các tài sản trên. Vì vậy, cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước chiếc điện thoại Redmi note 9s và tich thu tiêu hủy các sim số thuê bao 0353.998.110 và 0559.648.617 của bị cáo.

Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade BKS 18B2-056.93 là tài sản hợp pháp của ông Phạm Văn C - bố đẻ bị cáo. Ông C không biết S sử dụng chiếc xe trên đi thực hiện hành vi phạm tội nên cần trả lại ông C theo đề nghị của đai diện Viện kiểm sát và ông C là phù hợp.

[9] Án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại; đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 145; các điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân S phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

Xử phạt Phạm Xuân S 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã N giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Trả lại cho ông Phạm Văn C01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Airblade, sơn màu đỏ đen xám, biển kiểm soát 18B2-056.93.
  • - Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi note 9s, vỏ màu xanh của bị cáo Phạm Xuân S.
  • - Tịch thu tiêu huỷ các sim điện thoại số thuê bao 0353.998.xxx và 0559.648.617 của bị cáo Phạm Xuân S.

(Vật chứng nêu trên được mô tả như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu ngày 22/8/2024).

4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; các Điều 23, 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Phạm Xuân S phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại; đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - Sở tư pháp tỉnh Nam Định;
  • - VKSND huyện Hải Hậu;
  • - Công an huyện Hải Hậu;
  • - UBND xã Nam Hồng;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Ngô Thị Hoè

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2024/HS-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH về giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

  • Số bản án: 74/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Xuân S phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger