Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 74/2024/HS-ST

Ngày: 18-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Linh Sương

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Phạm Văn Cư
  2. Bà Trần Nguyệt Mai

- Thư ký phiên tòa tại điểm cầu trung tâm: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Thư ký phiên tòa tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an Q1: Ông Phan Văn D - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà tại điểm cầu trung tâm: Ông Nguyễn Đình Q - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai theo hình thức trực tuyến Vụ án hình sự thụ lý số 47/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 69/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Thạch H (tên gọi khác: Trần Trọng H), sinh ngày 26 tháng 3 năm 1993 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: A Đ, Ấp B, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện tại: Không nơi ở nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 04/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Khơ-me; tôn giáo: Không; con ông: Thạch H1, sinh năm 1972 và bà: Trần Thị Ngọc L, sinh năm 1975; có 01 người em sinh năm 1995; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 25/9/2012 bị Ủy ban nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh (lần 1) thời hạn 24 (hai mươi tư) tháng; ngày 01/10/2014 bị Ủy ban nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú thời gian là 24 (hai mươi tư) tháng; ngày 16/11/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù giam về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 192/2017/HSST, bị cáo chấp hành xong bản án ngày 20/11/2019; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/11/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an Q1; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 30/11/2023, Tổ tuần tra 363 – Công an Q1 đang tuần tra đến giao lộ N - C, Phường A, Quận E, thì phát hiện bị cáo Thạch H2 đang điều khiển xe mô tô biển số 52F5-3677 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra, bị cáo H2 không xuất trình được giấy tờ tùy thân nên Tổ tuần tra 363 đã đưa H2 về trụ sở Công an P, Quận E. Tại Công an phường, qua kiểm tra, phát hiện bên trong nón bảo hiểm H2 đang đội có 04 gói nylon chứa tinh thể không màu, H2 khai nhận tất cả là ma túy “đá”, H2 cất giấu mục đích để sử dụng nên Tổ tuần tra 363 bàn giao H2 cùng vật chứng cho Công an P, Quận E lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Vụ việc sau đó chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 thụ lý theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra, bị cáo Thạch H2 khai nhận bản thân là người nghiện ma túy, do có nhu cầu sử dụng nên khoảng 17 giờ 00 ngày 28/11/2023 H2 điều khiển xe mô tô biển số 52F5-3677 đến đường N gần cầu S, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh để mua của 01 nam thanh niên (không rõ lai lịch) là 04 gói ma túy đá với giá 1.300.000 đồng rồi mang về sử dụng, H2 cất giấu số ma túy trên vào bên trong nón bảo hiểm của H2 đang đội rồi điều khiển xe về nhà. Trên đường đến ngã tư N - C, Phường A, Quận E thì bị Tổ tuần tra 363 Công an Q1 kiểm tra, phát hiện ma túy nên tiến hành bắt giữ như đã nêu trên. H2 khai nhận việc tàng trữ trái phép chất ma tuý chỉ nhằm mục đích để sử dụng chứ không có mục đích khác. Đối với chiếc xe mô tô biển số 52F5-3677, bị cáo khai mua của một người không rõ lai lịch vào năm 2020 với giá 12.000.000 đồng, có làm giấy tờ mua bán viết tay nhưng chưa công chứng, chứng thực, sang tên theo quy định.

Vật chứng của vụ án: 04 (bốn) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu (mẫu vật – chất ma túy còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định được gói niêm phong số 2613/23-Q5 bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Trần Đình H3 và cán bộ Trương Tấn L1); 01 (một) điện thoại di động số IMEI: 352682501700339/01; 01 (một) xe mô tô biển số 52F5-3677, số khung: RLHHC09065Y102067, số máy: HC09E5158326; 01 (một) nón bảo hiểm màu cam có chữ ShopeeFood.

Tại Kết luận giám định số 13500/KL-KTHS ngày 08/12/2023 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: “Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m1 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 4,1879g (bốn phẩy một tám bảy chín gam), loại Methamphetamine; Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m2 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) có khối lượng 1,5330 (một phẩy năm ba ba không gam), loại không tìm thấy ma túy”.

Tại Bản cáo trạng số 47/CT-VKS-Q5 ngày 12/04/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Thạch H2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

Bị cáo Thạch H2 khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng nêu trên; bị cáo thống nhất với tội danh và khung hình phạt như cáo trạng đã nêu, thừa nhận việc truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận như sau: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Thạch H2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Thạch H2 hình phạt tù giam với mức án từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm tù; về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 04 (bốn) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu, 01 (một) nón bảo hiểm màu cam có chữ ShopeeFood; trả lại cho bị cáo H2 01 (một) điện thoại di động số IMEI: 352682501700339/01; giao cho Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu của 01 (một) xe mô tô biển số 52F5-3677, số khung: RLHHC09065Y102067, số máy: HC09E5158326 trong thời hạn 03 tháng, hết thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì và nói lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Về tội danh và khung hình phạt: Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo Thạch H2 tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa công khai, qua xét hỏi bị cáo Thạch H2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 30/11/2023 tại giao lộ N - C, Phường A, Quận E bị cáo H2 đã có hành vi tàng trữ 04 (bốn) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu nhằm mục đích sử dụng. Theo Kết luận giám định số 13500/KL-KTHS ngày 08/12/2023 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: “Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m1 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 4,1879g (bốn phẩy một tám bảy chín gam), loại Methamphetamine; Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m2 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) có khối lượng 1,5330 (một phẩy năm ba ba không gam), loại không tìm thấy ma túy”. Như vậy, bị cáo H2 đã có hành vi tàng trữ 4,1879g (bốn phẩy một tám bảy chín gam) ma túy, loại Methamphetamine, thuộc trường hợp “Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét bị cáo là người đã thành niên, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, có năng lực trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi với lỗi cố ý do đó hành vi của bị cáo Thạch H2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Về đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Bị cáo nhận thức rõ ma túy là chất gây nghiện, gây hại và nhận thức được tác hại của ma túy gây ra cho bản thân, gia đình và xã hội; biết việc tàng trữ trái phép các chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật mà Nhà nước nghiêm cấm, nhưng vẫn cố ý tàng trữ chất ma túy nhằm mục để sử dụng cá nhân. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho tệ nạn ma túy gia tăng, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo với mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, nhằm mục đích giáo dục bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

[4.1] Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4.2] Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

[5] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Qua đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, căn cứ Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù với một thời gian nhất định để có thể cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng” do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, nhận thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, không có khả năng thi hành hình phạt tiền. Căn cứ khoản 2 Điều 50 của Bộ luật Hình, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • 04 (bốn) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu, mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định được gói niêm phong số 2613/23-Q5 bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Trần Đình H3 và cán bộ Trương Tấn L1, trong đó có chứa ma túy, là vật phạm pháp, Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu và tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • 01 (một) điện thoại di động số IMEI: 352682501700339/01. Xét thấy chiếc điện thoại nêu trên là tài sản cá nhân của bị cáo, không dùng vào việc phạm tội, nên trả lại cho bị cáo theo điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • 01 (một) xe mô tô biển số 52F5-3677, số khung: RLHHC09065Y102067, số máy: HC09E5158326. Kết quả xác minh phương tiện giao thông xác định xe mô tô nêu trên do ông Lương Việt H4 sở hữu, ông Lương Việt H4 đã chết vào ngày 20/4/2023, con trai của ông H4 là ông Lương Việt Vĩnh H5 cũng đã chết vào ngày 24/09/2022. Như vậy, chiếc xe nêu trên đã được cơ quan cảnh sát điều tra thông báo tìm chủ sở hữu hợp pháp nhưng chưa có kết quả; bị cáo sử dụng chiếc xe không rõ nguồn gốc vào việc phạm tội nên cần giao cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe nêu trên trong thời hạn 03 (ba) tháng, hết thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • 01 (một) nón bảo hiểm màu cam có chữ ShopeeFood là công cụ, phương tiện bị cáo dùng để tàng trữ ma túy nên tịch thu tiêu huỷ theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7] Đối với nam thanh niên không rõ lai lịch là đối tượng bán ma túy cho Thạch H2, chưa rõ lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ và xử lý sau là phù hợp.

[8] Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo cũng như các vấn đề xử lý vật chứng là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, đúng quy định.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,

    Xử phạt bị cáo Thạch H2 03 (ba) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 30 tháng 11 năm 2023.

  2. Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021,
    • Tịch thu tiêu hủy : 04 (bốn) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu, mẫu vật còn lại sau khi đã sử dụng phục vụ giám định được gói niêm phong số 2613/23-Q5 bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Trần Đình H3 và cán bộ Trương Tấn L1); 01 (một) nón bảo hiểm màu cam có chữ ShopeeFood;
    • Trả lại cho bị cáo Thạch H2 01 (một) điện thoại di động số IMEI: 352682501700339/01;
    • Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu hợp pháp 01 (một) xe mô tô biển số 52F5-3677, số khung: RLHHC09065Y102067, số máy: HC09E5158326 trong thời hạn 03 (ba) tháng, hết thời hạn trên không ai đến nhận thì tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

      (Tình trạng giao nhận vật chứng như Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 06/5/2024 giữa Công an Q1 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).

  3. Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

    Buộc bị cáo Thạch H2 phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021,

    Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TpHCM;
  • - Sở Tư pháp TpHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TpHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 5;
  • - Cơ quan CSĐT Công an Quận 5;
  • - Bộ phận THA HS Tòa án Quận 5;
  • - Phòng PV 06 - Công an TPHCM;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Linh Sương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2024/HS-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 74/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Thạch H-Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger