Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔ LƯƠNG

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2024/HS-ST

Ngày 17-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đạt
  • Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đình Nhàn
  • 2. Bà Trần Thị Minh Hợi
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hường, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 78/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phan Anh T, sinh ngày 12 tháng 07 năm 2002, tại: xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: thôn C, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn H, sinh năm 1974 và con bà Ngô Thị T1, sinh năm 1976; Vợ, con: không. Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt

- Bị hại: bà Phạm Thị N, sinh năm 1962; Nơi cư trú: xóm A, xã L, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Có mặt

- Người làm chứng: Anh Ngô Đình Đ, sinh năm 2003; Nơi cư trú: Thôn E, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt

- Người tham gia tố tụng khác: không

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 12 tháng 04 năm 2024, Phan Anh T (có giấy phép lái xe hạng A1 số [...] không thời hạn) điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 37M1-242.02 (chở theo Ngô Đình Đ, sinh năm 2003, trú tại thôn E, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An đi chuyển trên quốc lộ A theo hướng từ xã M, huyện Đ đi Thị Trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Đến khoảng 19 giờ 15 phút cùng ngày, khi T điều khiển xe mô tô đi đến gần khu vực giao nhau giữa đường Q với đường nhánh đi về Ủy ban xã L và xóm A, xã L, huyện Đ, tỉnh Nghệ An do thiếu chú ý quan sát nên đến khi thấy xe máy điện màu đỏ đen do bà Phạm Thị N, sinh năm 1962, trú tại xóm A, xã L, huyện Đ, tỉnh Nghệ An điều khiển đi từ đường nhánh đi ra theo hướng từ phải sang trái so với chiều di chuyển của xe mô tô biển số 37M1-242.02 (đi từ hướng UBND xã L đi qua Quốc lộ A đi vào đường bê tông đi xóm A, xã L) thì Phan Anh T mới đạp phanh bấm còi và đánh lái sang bên trái, khi xe mô tô đi sang phần đường ngược chiều bên trái theo hướng đi của T thì phía trước bên phải xe mô tô của T đâm vào phía trước bên trái xe máy điện của bà N làm cho hai xe ngã xuống đường. Hậu quả, bà Phạm Thị N bị chấn thương sọ não và tụ máu trong não phải đi cấp cứu tại bệnh viện Hữu nghị đa khoa tỉnh N; anh Phan Anh T bị thương phải đi điều trị tại bệnh viện đa khoa huyện Đ; xe mô tô và xe máy điện bị hư hỏng; anh Ngô Đình Đ không bị thương tích gì.

Tại Cơ quan điều tra, Phan Anh T đã khai báo thành khẩn và thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên

Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường nơi xảy ra tai nạn được xác định là khu vực giao nhau giữa đường Quốc lộ 15A với đường nhánh đi về Ủy ban xã L và xóm A, xã L, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Đường Quốc lộ 15A được rải nhựa tương đối bằng phẳng, đường thẳng, đường rộng 8,45m ở giữa có vạch kẻ đứt quãng màu vàng chia đường thành 2 chiều xe chạy riêng biệt, chiều đường phía Tây Nam rộng 4,4m đường chạy hướng Đ (đi huyện N) - T (đi thị trấn Đ). Đường đi về UBND xã L là đường nhựa rộng 7,1m chạy hướng T - Đ (đi về UBND), vị trí tiếp giáp đường Quốc lộ 15A rộng 18m. Đường đi về xóm A, xã L là đường bê tông rộng 4,45m chạy hướng Đông Bắc – T (đi xóm A), vị trí tiếp giáp đường Quốc lộ 15A rộng 11m. Ở lề đường bên phải chiều ra đường Quốc lộ 15A của hai đường nhánh nói trên có biển báo nền đỏ, chữ STOP màu trắng. Ở vỉa hè phía bên phải chiều huyện N đi thị trấn Đ cách nơi giao nhau khoảng 100 mét có biển báo hiệu giao nhau với đường không ưu tiên.

Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:

  1. Vết trượt xước mặt đường
  2. Vùng vết cày
  3. Vết cày
  4. Xe mô tô biển số 37M1-242,02
  5. Xe máy điện màu đỏ
  6. Vùng vết máu

Xác định điểm mốc và một trong các mép đường nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn: Lấy cột điện đánh số 2.6/T2 ở góc phía Tây nơi giao nhau làm mốc. Nối các điểm chính giữa đường theo chiều dọc của đường nhựa Quốc Lộ A làm chuẩn (sau đây gọi là đường chuẩn). Đo phương pháp vuông góc.

Mô tả theo số thứ tự vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:

  • - Vùng vết trượt xước mặt đường bê tông trên khu vực giao nhau giữa đường bê tông đi về xóm A, xã L với đường Q có kích thước(2,4x0,08)m chiều hướng Đông Nam – T, điểm đầu và điểm cuối lần lượt cách đường chuẩn là 3,9m và 5,2m điểm đầu cách mốc 2,7m về hướng Đ, điểm cuối chếch phía Tây (Vị trí số 1).
  • - Vùng vết cày gồm 2 vết, kích thước vùng (4,3x0,09m) độ rộng mỗi vết cày 0,01m, điểm đầu và điểm cuối lần lượt cách đường chuẩn là 4,2m và 5,45m về hướng Tây Nam, điểm đầu cách điểm đầu dấu vết vị trí số 1 về phía T là 1,15m. Vùng dấu vết nằm trên phần đường bê tông đi về xóm A, xã L và vỉa hè phía Tây Nam. Đoạn cuối của vùng dấu vết ở vỉa hè, lệch về phía Đông Bắc tại góc của mép mương vỉa hè có vết vùng cà xước cùng chiều hướng vùng vết cày kích thước (0,25x0,01)m (vị trí số 2).
  • - Vết cày trên mặt đường bê tông đi về xóm A, xã L có kích thước (1,15x0,015)m chiều hướng Đông Nam – T, điểm đầu và điểm cuối lần lượt cách đường chuẩn về phái Tây Nam là 4,45m và 5,3m, điểm dầu cách điểm đầu dấu vết vị trí số 2 là 0,7m về phía T (vị trí số 3)
  • - Xe mô tô biển số 37M1-242.02 ngã nghiêng bên phải nằm trên phần đường bê tông đi về xóm A, xã L và vỉa hè phía Tây Nam, đầu hướng phía Tây, đuôi xe hướng phía Đông, tâm trục bánh trước và tâm trục bánh sau lần lượt cách đường chuẩn về phía Tây Nam là 7,8m và 6,7m, tâm trục bánh sau cách điểm đầu dấu vết vị trí số 3 là 1,8m về phía T (vị trí số 4)
  • - Xe máy điện màu đỏ không mang biển số ngã nghiêng bên phải ở mép đường phía Tây nam, đường Quốc lộ 15A, tâm trục bánh trước và tâm trục bánh sau lần lượt cách đường chuẩn về phía Tây Nam là 4,5m và 4,5m, tâm trục bánh sau cách điểm đầu dấu vết vị trí số 2 là 4,45m về phía T (vị trí số 5).
  • - Vùng vết máu dạng chảy đọng và dạng nhỏ giọt trên vùng kích thước (1,1x1,0)m trên vỉa hè phía Tây Nam, mép phía Đông Bắc cách đường chuẩn 4,45m và mép phía Đông Nam cách tâm trục bánh trước xe máy điện vị trí số 5 về phía T là 0,95m (vị trí số 6).

Kết quả khám nghiệm phương tiện:

Xe máy điện màu đỏ đen:

Dấu vết trên phương tiện:

  • Ốp nhựa bên trái của vị trí để ắc quy và giá để chân phía trước bị vỡ mất nhựa vùng kích thước (20x20x15,5)cm.
  • Mặt ngoài của ốp nhựa có vùng cà trượt bám chất màu đen dạng cao su kích thước (8,5x9)cm cao cách đất 19cm (ốp nhựa phía bên trái của vị trí đựng ắc quy và giá để chân phía trước). Trên vùng này có vết nứt vỡ nhựa kích thước (5,5x4,5)cm cao cách đất 22cm.
  • Góc phía sau bên trái của ốp nhựa bên trái của vị trí để ắc quy và giá để chân phía trước có vùng trượt xước nhựa bề mặt bám chất màu đen kích thước (12x7)cm, cao cách đất 29cm.
  • Phần tấm trên của hộp đựng bình ắc quy (tấm để chân phía trước) phía thành bên trái có vết thủng nhựa kích thước (2x2)cm kèm theo vết mài nhựa chiều hướng từ sau ra trước, cao cách đất 29cm.
  • Mặt bên trái của khung kim loại thân xe bên trái có vùng cà trượt bám nhựa bề mặt bám chất màu hồng đỏ kích thước (19,5x3)cm cao cách đất 25cm. Trên vùng này có vết mài mòn kim loại chiều hướng sau ra trước chếch trên xuống dưới kích thước (1,2x3)cm cao cách đất 26cm.

Kỹ thuật an toàn phương tiện:

  • Hệ thống điều khiển, phanh, đèn, còi hoạt động bình thường.

Xe mô tô BKS 37M1-242.02:

- Về giấy tờ, phương tiện:

  • + 01 Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Phan Anh T số [...].
  • + 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS 37M1-242.02.

- Dấu vết trên phương tiện:

  • Mặt bên phải của mặt nạ và yếm phải có vùng cà xước nhựa chiều hướng từ trước ra sau phần yếm phải bị bung kích thước (30x45)cm, cao cách đất 42cm.
  • Yếm phải bị bung chốt phần trên, đèn xi nhan phía trước bên phải gắn ở yếm xe bị bung ra khỏi vị trí ban đầu.
  • Phần mũi chắn bùn phía trước của bánh trước có vết cà xước kích thước (10x6)cm chiều hướng từ trái sang phải, cao cách đất 53cm.
  • Ốp nhựa phía trên tay lái và mặt ngoài phần nhựa trong của đầu đèn chiều sáng có vết cà xước mài mòn nhựa kích thước (30x22)cm chiều hướng từ trái sang phải, cao cách đất 92cm.
  • Ốp thân bên phải có vùng cà xước mài mòn nhựa kích thước (8x12)cm cao cách đất 66cm chiều hướng từ trước ra sau. Ngay phía trên vị trí này là vị trí rách yên xe kích thước (2x3)cm.
  • Mặt bên phải của ống xả có vùng cà xước kim loại bám chất màu trắng dạng bụi đá dường, cao cách đất 52cm.
  • Đâu bên phải của đinh ốc trục bánh trước bị cà trượt kim loại và bám dính chất màu đen dạng nhựa ở mặt trước và cạnh bên phải kích thước (1,5x1,5)cm, cao cách đất 29cm.
  • T2 lốp bên phải lốp trước có vùng cà trượt mất bám bụi sáng cao su rách xước lốp kích thước (14x30cm cách chân van 33cm ngược chiều quay tiến.
  • Mặt bên phải của đĩa phanh bên trước có vùng cà trượt kim loại bám chất màu đỏ hồng kích thước (7x6)cm tương ứng vị trí này đĩa bị cong biến dạng từ phải sang trái.
  • Yếm bên trái bị cà xước nhựa rách tem kích thước (20x6)cm, cao cách đất 42cm.

- Kỹ thuật an toàn phương tiện:

  • Hệ thống điều khiển, hệ thống đèn, còi, hoạt động bình thường.

Tại Bản kết luận giám định số 133/ KLGĐ-KTHS(DVCH) ngày 09 tháng 05 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh N về giám định dấu vết cơ học:

  • Ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn xe mô tô biển số 37M1-242.02 di chuyển trên Quốc lộ A theo hướng từ huyện N đi thị trấn Đ, xe máy điện màu đỏ đen, số khung RPEYADHPELA702020 di chuyển theo chiều hướng chếch từ phải sang trái, từ sau ra trước so với chiều di chuyển của xe mô tô biển số 37M1-242.02.
  • Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe mô tô biển kiểm soát 37M1-242.02 và trên xe máy điện màu đỏ đen, số khung RPEYADHPELA702020.
  • Trên hai phương tiện:
    • + Trên xe mô tô biển số 37M1-242.02: Ở phần trước phía bên phải xe.
    • + Trên xe máy điện màu đỏ đen, số khung RPEYADHPELA702020: Ở phần phía trước bên trái xe.
  • Trên hiện trường: Ở phần đường phía bên phải đường Quốc lộ 15A theo hướng từ thị trấn Đ đi huyện N.
  • Không đủ cơ sở xác định tốc độ di chuyển của xe mô tô biển số 37M1-242.02 và xe máy điện màu đỏ đen, số khung RPEYADHPELA702020 ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tổn thương trên cơ thể trên người sống số 241/KLTTCT-TTPY ngày 27 tháng 05 năm 2024 của Trung tâm pháp y tỉnh N đối với Phạm Thị N:

  • - Các kết quả chính:
    • + Một sẹo vết thương trùng sẹo phẫu thuật từ trán – đỉnh bên phải đến thái dương đỉnh bên trái.
    • + Võ xương trán – thái dương đỉnh bên phải. Tụ máu ngoài màng cứng trán thái dương bên trái, xuất huyết dưới nhện. Phẫu thuật lấy máu tụ ngoài màng cứng và xử lý xương vỡ.
    • + Hiện tại khuyết xương hộp sọ đáy phập phồng vùng thái dương – trán bên trái, đường kính 70mm, không phát hiện tụ máu ngoài màng cứng và xuất huyết dưới nhện trên phim chụp CT.Scanner sọ não
    • + Gãy các xương sườn 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11 bên trái.
    • + Vỡ thân đốt sống ngực D8
    • + Dày dính màng phổi đáy phổi bên trái
    • + Một đám thâm nhạt màu ngực bên trái.
  • - Kết luận:
  • Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/08/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Thị N tại thời điểm giám định là: 67 % (sáu mươi bảy phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại thông tư.

Tại Bản Kết luận giám định pháp y về tổn thương trên cơ thể trên người sống số 242/KLTTCT-TTPY ngày 27 tháng 05 năm 2024 của Trung tâm pháp y tỉnh N đối với Phan Anh T:

  • + Các kết quả chính:
    • - Tại các vị trí: Cẳng tay bên phải, cổ tay bên phải và bàn tay bên phải, hiện tại không có dấu vết tổn thương ngoài da.
    • - Gãy đầu dưới xương quay bên phải; gãy xương bàn V và đốt 1 ngón V bàn tay bên phải. Hiện tại ổn định.
  • + Kết luận:
  • Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, giám định Pháp y tâm thần xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phan Anh T tại thời điểm giám định là: 17% (mười bảy phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Tại kết luận định giá số: 21/KL-ĐGTS ngày 27/05/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện Đ, kết luận:

  • - Thiệt hại đối với xe mô tô BKS 37M1-242.02 là 1.630.000 đồng (Một triệu sáu trăm ba mươi nghìn đồng).
  • - Thiệt hại đối với xe máy điện số máy RPE48V700W702020 là 1.350.000 đồng (Một triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).

Vật chứng vụ án thu giữ gồm:

Quá trình điều tra đã thu giữ đồ vật, tài liệu:

  • Thu giữ của bị hại bà Phạm Thị N: 01 (một) xe máy điện màu đỏ đen số máy RPE48V700W702020 đã qua sử dụng.
  • Thu giữ từ bị cáo Phan Anh T: 01 (một) xe mô tô mang biển kiểm soát 37M1-242.02, nhãn hiệu: Yamaha Exciter, màu xanh đen, số khung: 0610JY713255, số máy G3D4B741781 đã qua sử dụng; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy biển kiểm soát 37M1-242.02 mang tên Phan Anh T3, sinh năm: 1999, trú tại: Thôn E, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An; 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Phan Anh T, số giấy phép: 400207015942 do sở giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 16/07/2020.

Về xử lý vật chứng:

  • Ngày 07/6/2024 Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho bị cáo Phan Anh T gồm các tài sản: 01 (một) xe mô tô mang biển kiểm soát 37M1-242.02, nhãn hiệu: Yamaha Exciter, màu xanh đen, số khung: 0610JY713255, số máy G3D4B741781 đã qua sử dụng; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy biển kiểm soát 37M1-242.02 mang tên Phan Anh T3
  • Đối với 01 (một) xe máy điện màu đỏ đen số máy RPE48V700W702020 đã qua sử dụng thu giữ của bà Phạm Thị N, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã chuyển đến Đội Cảnh sát giao thông đường bộ số 04 thuộc Phòng C Công an tỉnh N để xử phạt vi phạm hành chính Phạm Thị N về hành vi: Không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên, đường chính từ bất kỳ hướng nào tới tại nơi đường giao nhau” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 6 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ

Vật chứng vụ án còn lại :

  • 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Phan Anh T, số giấy phép: 400207015942 do sở giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 16/07/2020

Về phần dân sự: Trong quá trình điều tra, truy tố bà Nguyễn Thị N1 chưa có yêu cầu về phần bồi thường trách nhiệm dân sự

Bản cáo trạng số 81/CT-VKS-ĐL ngày 20/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An truy tố Phan Anh T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo Phan Anh T thừa nhận hành vi phạm tội như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương và về phần trách nhiệm dân sự: bị cáo đồng ý thỏa thuận bồi thường số tiền 60.000.000đồng (sáu mươi triệu đồng) cho bị hại, như yêu cầu của người bị hại bà Phạm Thị N. Trước khi mở phiên tòa xét xử bị cáo đã chủ động nộp 20.000.000đồng tại chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương theo biên lai số 0009920
  • - Bị hại bà Phạm Thị N thống nhất trình bày: Về trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về mặt dân sự bà N thống nhất thỏa thuận yêu cầu bị cáo bồi thường trách nhiệm dân sự số tiền 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Phan Anh T từ 12 tháng đến 15 tháng tù, về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Đề nghị miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Phan Anh T.
  • Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo Phan Anh T 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Phan Anh T, số giấy phép: 400207015942 do Sở giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 16/07/2020
  • Về phần trách nhiệm dân sự: bị cáo đồng ý thỏa thuận bồi thường số tiền 60.000.000đồng (sáu mươi triệu đồng) cho bị hại, như yêu cầu của người bị hại bà Phạm Thị N tại phiên tòa, bị cáo đã chủ động nộp 20.000.000đồng tại chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương theo biên lai số 0009920, nên buộc bị cáo Phan Anh T tiếp tục phải bồi thường cho bà Phạm Thị N số tiền còn lại 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng).
  • Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo Phan Anh T khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố; lời khai của bị cáo phù hợp các chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra đã được thẩm tra tại phiên tòa; phù hợp với lời khai người bị hại, của người làm chứng. Đặc biệt là kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện và các kết luận giám định. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào lúc 19 giờ 15 phút ngày 12 tháng 04 năm 2024, tại khu vực giao nhau giữa đường Quốc lộ 15A với đương nhánh đi về Ủy ban xã L và xóm A, xã L, huyện Đ, tỉnh Nghệ An, Phan Anh T điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 37M1-242.02 chở theo Ngô Đình Đ đi chuyển trên quốc lộ A theo hướng từ xã M, huyện Đ đi Thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An do thiếu chú ý quan sát và đi sai phần đường (vi phạm điểm b khoản 7 Điều 6 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt và khoản 1, Điều 9, Luật giao thông đường bộ) đã va chạm với xe máy điện màu đỏ đen do bà Phạm Thị N điều khiển đi từ đường nhánh đi ra theo hướng từ phải sang trái so với chiều di chuyển của xe mô tô biển số 37M1-242.02 (đi từ hướng UBND xã L đi qua Quốc lộ A đi vào đường bê tông đi xóm A, xã L). Hậu quả: Bà Phạm Thị N bị thương tích 67% (sáu mươi bảy phần trăm), bị cáo bị thương tích 17% (mười bảy phần trăm). Tại thời điểm thực hiện hành vi bị cáo Phan Anh T là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Hành vi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông thiếu chú ý quan sát và đi sai phần đường gây tai nạn làm bị thương 01 người của bị cáo Phan Anh T đã vi phạm vào điểm b khoản 7 Điều 6 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ, quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, nên hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ và đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự đúng như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương.

[4]. Xét tính chất, nhân thân:

Xét tính chất vụ án, nhân thân: hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến an toàn của hoạt động giao thông đường bộ và sự an toàn về tính mạng, sức khỏe của những người tham gia giao thông. Ngoài ra còn gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho quần chúng nhân dân nơi xảy ra tội phạm. Bị cáo nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, nên Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi bị cáo đã phạm tội mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[5]. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và thật sự ăn năn hối cải (là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự), trước khi mở phiên tòa bị cáo đã chủ động nộp bồi thường 20.000.000đồng tại chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương the biên lai số 0009920, ngoài ra bị cáo đã từng tham gia quân ngũ được sư đoàn 324 tặng danh hiệu Chiến sỹ tiên tiến, lỗi một phần thuộc về bị hại, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo (là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự).

Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo phạm tội lần đầu, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và thật sự ăn năn hối cải, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo hưởng biện pháp chấp hành hình phạt tù có điều kiện là phù hợp với quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

[6]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định của pháp luật bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, tuy nhiên xét bị cáo hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có tài sản và thu nhập không ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo

[7]. Về biện pháp tư pháp:

Ngày 07/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho Phan Anh T các tài sản gồm: 01 (một) xe mô tô mang biển kiểm soát 37M1-242.02, nhãn hiệu: Yamaha Exciter, màu xanh đen, số khung: 0610JY713255, số máy G3D4B741781 đã qua sử dụng; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy biển kiểm soát 37M1-242.02 mang tên Phan Anh T3 là đúng quy định pháp luật (Do anh Phan Anh T3 là anh trai của T đã đi nước ngoài trước thời điểm vụ tai nạn xảy ra và để lại chiếc xe mô tô cho T làm phương tiện đi lại) . Xét việc trả lại các tài sản là đúng quy định pháp luật, bị cáo không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 (một) xe máy điện màu đỏ đen số máy RPE48V700W702020 đã qua sử dụng thu giữ của bà Phạm Thị N, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã chuyển đến Đội Cảnh sát giao thông đường bộ số 04 thuộc Phòng C Công an tỉnh N để xử phạt vi phạm hành chính Phạm Thị N về hành vi: Không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên, đường chính từ bất kỳ hướng nào tới tại nơi đường giao nhau” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 6 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ là đúng quy định pháp luật

Đối với 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Phan Anh T, số giấy phép: 400207015942 do Sở giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 16/07/2020 là giấy tờ hợp pháp của bị cáo có trong hồ sơ vụ án do đó cần tuyên trả lại cho bị cáo

[8]. Về trách nhiệm dân sự: giữa bị cáo và bị hại tại phiên tòa đã thỏa thuận bị cáo phải bồi thường cho người bị hại số tiền 60.000.000đ (sáu mươi triệu) đồng, xét việc thỏa thuận là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên cần công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại. Bị cáo đã chủ động nộp bồi thường trước khi khai mạc phiên tòa xét xử số tiền 20.000.000đồng tại chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương theo biên lai số 0009920, nên buộc bị cáo Phan Anh T tiếp tục bồi thường số tiền còn lại cho bà Phạm Thị N 40.000.000đ (bốn mươi triệu)đồng

[9]. Về vấn đề khác: Trong vụ án này đối với hành vi của bà Phạm Thị N điều khiển xe máy điện từ đường nhánh (không đường ưu tiên) đi ra đường quốc lộ 15 A (đường ưu tiên) đã không nhường đường cho xe mô tô do anh Phan Anh T điều khiển đi trên đường ưu tiên đã vi phạm khoản 3 Điều 24 Luật giao thông đường bộ năm 2008, hậu quả bà Phạm Thị N gây thương tích cho bị cáo Phan Anh T 17%, do vậy hành vi của bà Phạm Thị N không đủ yếu tố cấu thành tội phạm, do đó Cơ quan điều tra Công an huyện Đ đã chuyển hồ sơ đến Đội Cảnh sát giao thông đường bộ số 04 thuộc phòng cảnh sát giao thông tỉnh C để xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định của pháp luật.

[10], Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của HĐXX nên được chấp nhận.

[11]. Về án phí: Bị cáo Phan Anh T phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Anh T 12(mười hai) tháng tù, về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (hai mươi tư) tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phan Anh T cho UBND xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[2]. Về biện pháp tư pháp: áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự

Trả lại cho bị cáo 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Phan Anh T, số giấy phép: 400207015942 do Sở giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 16/07/2020 có trong hồ sơ vụ án.

[3]. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 246 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 584; Điều 585; Điều 590; Điều 357; 468 Bộ luật dân sự năm 2015

Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại, buộc bị cáo Phan Anh T bồi thường thiệt hại về sức khoẻ cho bà Phạm Thị N số tiền 60.000.000(sáu mươi triệu)đồng. Bị cáo đã bồi thường được 20.000.000đồng (hai mươi triệu), buộc bị cáo phải bồi thường tiếp số tiền còn lại cho bị hại là 40.000.000đồng(bốn mươi triệu).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Bản này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[3]. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a, f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Phan Anh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2000.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm

[4]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 332 Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên áa.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Đô Lương;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - Công an huyện Đô Lương;
  • - THADS huyện Đô Lương;
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

LÊ VĂN ĐẠT

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG TỈNH NGHỆ AN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 74/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger