Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 74/2024/HS-ST

Ngày 17 tháng 7 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Ngọc Tiền.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Châu Hùng và ông Nguyễn Văn Bằng.

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Diễm My, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hải, Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Võ Hoàng D, sinh ngày 08/9/1983 tại thành phố C, tỉnh An Giang; giới tính: nam; nơi cư trú: Tổ A, khóm M, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Đạo phật; Trình độ văn hóa: 3/12; Nghề nghiệp: Không; con ông Võ Văn B, sinh năm 1964 và bà: Nguyễn Thị M (đã chết); Bị cáo là con thứ hai. Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền sự, tiền án: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 05/4/2024 (có mặt).

Bị hại: Nguyễn Thị M1, sinh năm 1976; nơi cư trú: Tổ A, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Người làm chứng: Nguyễn Thanh B1, sinh năm: 1974; Nguyễn Đức L, sinh năm 1976; Trần Thị K, sinh năm 1983; Lê Thị L1, sinh năm 1958 (tất cả người làm chứng vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 22/03/2024, Võ Hoàng D đến Bệnh viện Đ tại thành phố C để nuôi bệnh thuê cho người quen tên Lê Công G tại khu A, Khoa ngoại Tổng hợp ở tầng 4. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày trong lúc đang nằm trên ghế bố ngoài hành lang trước cửa phòng bệnh, D thấy Nguyễn Thị M1 cũng là người chăm sóc bệnh cho người thân, đang nằm trên ghế bố tiếp nối ghế bố của D, sử dụng điện thoại di động. Đến khoảng 00 giờ 15 phút ngày 23/03/2024, thấy M1 đã ngủ còn điện thoại thì để bên phía tay trái, nên D nảy sinh ý định lấy trộm, D dùng tay trái lén lút lấy trộm điện thoại hiệu Xiaomi Redmi 12, rồi để vào trong quần lót cất giấu. D đem điện thoại vừa lấy được đi đến trạm xe buýt (gần tiệm T đối diện Bệnh viện Đ tỉnh An Giang) tháo ốp lưng và sim ném bỏ xuống khu vực đất trống, rồi cất giấu điện thoại phía dưới tấm đal tại đây, xong D tiếp tục trở vào trong Bệnh viện ngủ. Đến khoảng 01 giờ 30 phút cùng ngày, M1 phát hiện điện thoại di động bị mất trộm, nên đến phòng trực bảo vệ của Bệnh viện trình báo. Qua kiểm tra camera nghi vấn D lấy trộm nên đến Công an phường V trình báo sự việc. Công an mời Dư làm việc, Dư thừa nhận hành vi phạm tội, giao nộp điện thoại đã lấy trộm.

Tại kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 585/KL-ĐG ngày 24/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C, ghi nhận: 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi 12, màu bạc, trị giá 2.400.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị M1 xác nhận đã nhận lại được tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo khai nhận phù hợp với nội dung vụ án.

Tại Cáo trạng số 56/CT-VKSCĐ-HS ngày 27/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố Võ Hoàng D về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Võ Hoàng D khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Hoàng D từ 09 tháng đến 01 năm tù; do hoành cảnh bị cáo khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng, bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên không đề cập xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

- Tại phiên tòa bị hại và người làm chứng đều vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 00 giờ 15 phút ngày 23/03/2024, tại Bệnh viện Đ tại thành phố C bị cáo D đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi 12, màu bạc, trị giá 2.400.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo D đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (tội phạm ít nghiêm trọng).

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo D là người đã thành niên, bản thân có sức khỏe và có hiểu biết nhất định về pháp luật nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện để làm ăn chân chính. Trong vụ án này, hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ mục đích của tội phạm là chiếm đoạt được tài sản.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã tự nguyện nộp lại tài sản chiếm đoạt để trả lại cho bị hại. Ngoài ra, bị cáo có học lực thấp, hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tuy nhiên, hành vi của bị cáo là coi thường pháp luật cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Nhưng xét thấy bị cáo D có hoàn cảnh khó khăn, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận được tài sản và không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi Redmi 12, màu bạc. Xét đã trả lại cho bị hại Nguyễn Thị M1 nên hội đồng xét xử không đề cập xem xét.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Võ Hoàng D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Võ Hoàng D 09 (chín) tháng tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 05/4/2024 (Ngày năm tháng tư năm hai không hai mươi bốn).

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Võ Hoàng D phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát TP. Châu Đốc;
  • - Trại tạm CA tỉnh An Giang;
  • - Thi hành án DS TP. Châu Đốc;
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án;
  • - Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Ngọc Tiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 74/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger