|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TRÀ VINH Bản án số: 74/2023/HS-ST Ngày: 16-11-2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TRÀ VINH
- Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Trần Thị Sang;
- Bà Thi Thị Thanh Trúc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Kiên Thị Minh Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Lôi Vĩnh Trí, Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 03/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/QĐST-HS ngày 01/11/2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Đồng Thị N, sinh ngày 01/01/1955; giới tính: Nữ; nơi sinh: tỉnh Trà Vinh; Nơi cư trú: Ấp N, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Đạo Phật; Nghề nghiệp: Nội trợ; Trình độ học vấn: Lớp 01/12; con ông Đồng Văn G (Chết) và bà Trần Thị Đ (Chết); có chồng là Hà Ngọc T, sinh năm 1954 và con ruột có 05 người, lớn nhất sinh năm 1977 và nhỏ nhất sinh năm 1989; anh chị em ruột: có 03 người, lớn nhất sinh năm 1949 và nhỏ nhất sinh năm 1961; tiền án: 01 tiền án; Vào ngày 20/10/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tuyên phạt 20.000.000 đồng về tội đánh bạc, đến nay chưa chấp hành xong bản án; tiền sự: Không. Bị cáo Đồng Thị N đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/7/2023 đến nay, tại xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
2. Họ và tên: Trần Minh T1, sinh ngày 15/7/1976; giới tính: Nam; nơi sinh: tỉnh Trà Vinh; nơi cư trú: Số A, khóm A, phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; con ông Trần Bạch T2, sinh năm 1948 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1953; Có vợ là Hà Yến Đ1, sinh năm 1976 (Đã ly hôn); con: Có 02 người; lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2008; anh chị em ruột có 02 người, lớn nhất sinh năm 1974, nhỏ nhất sinh năm 1978; tiền án: Không; tiền sự: 01 lần; vào ngày 12/4/2023 Trần Minh T1 bị Công an xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh, ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, số tiền 1.500.000 đồng, về hành vi đánh bạc, đã chấp hành xong vào ngày 21/4/2023, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo Trần Minh T1 đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/7/2023 đến nay, tại phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ 50 phút, ngày 18/5/2023 Công an xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh đã tiến hành kiểm tra khu vực đất trống thuộc ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh phát hiện Trần Minh T1, Đồng Thị N; Phan Quốc D, ngụ ấp B, xã H, huyện C và Thạch Thị Mộng T3, ngụ khóm D, phường G, thành phố T đang đánh bạc trái phép được thua bằng tiền. Tang vật thu giữ tại hiện trường gồm: 01 bộ bài tây (loại bài 52 lá) đã qua sử dụng; tiền Việt Nam trên chiếu bạc 190.000 đồng; tạm giữ xung quanh hiện trường tiền Việt Nam là 510.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra các đối tượng khai nhận: Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 18/5/2023, Trần Minh T1 đi xe ôm từ nhà thuộc khóm A, phường G, thành phố T, đến quán nước chị Thạch Thị L1, ngụ ấp T, xã H, huyện C, để uống nước. Khi đến nơi, T1 nhìn thấy Đồng Thị N, anh Phan Quốc D và chị Thạch Thị Mộng T3 đang ngồi trong quán nên T1 rủ N, D và T3 đánh bài tiến lên ăn thua bằng tiền thì tất cả đồng ý. Sau đó, T1 lấy 5.000 đồng nhờ một bé trai khoảng 07 tuổi (không rỏ nhân thân và địa chỉ cụ thể) đi mua dùm 01 bộ bài tây loại 52 lá. Hình thức chơi là 04 người chia làm 04 tụ bài, mỗi người được chia 06 lá và thỏa thuận chơi như sau: Người thắng nhất 10.000 đồng do người thua sau cùng chung; người thắng nhì thì người thua ba chung 5.000 đồng; 02 đôi bài liền kề ăn được 01 con hai (heo) số tiền 10.000 đồng; 03 lá cùng loại với nhau thì ăn được 01 con hai (heo) số tiền 10.000 đồng hoặc đôi hai (heo) thì ăn số tiền 20.000 đồng và ăn được hai đôi liền kề thì ăn được số tiền 10.000 đồng; 04 lá bài cùng loại với nhau ba đôi, sảnh liền 06 lá thì tới trắng mỗi người thua 10.000 đồng nếu để chết hai (heo), bị chặt hai (heo) và ăn chồng (chặt chồng) thì tính tổng số tiền cho người bị ăn cuối (bị chặt cuối). Trước khi tham gia đánh bạc, T1 mang theo 100.000 đồng, sử dụng 100.000 đồng để đánh bạc; N mang theo 20.000 đồng, sử dụng 20.000 đồng để đánh bạc; D mang theo 50.000 đồng, sử dụng 50.000 đồng để đánh bạc; T3 mang theo 20.000 đồng, sử dụng 20.000 đồng để đánh bạc.
Tổng số tiền dùng để đánh bạc là 190.000 đồng. Đến khoảng 14 giờ 50 phút cùng ngày, Công an xã H chuyện C vào kiểm tra, lúc này T1 thua 40.000 đồng; Nùng thua 10.000 đồng; D thắng 50.000 đồng; T3 không thắng cũng không thua. Ngoài ra, số tiền Việt Nam 510.000 đồng Công an thu giữ xung quanh hiện trường thì các đối tượng khai không biết của ai.
Tại Cáo trạng số 74/VKS-HS ngày 17/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh đã truy tố bị cáo Đồng Thị N, Trần Minh T1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Đối với Phan Quốc D và Thạch Thị Mộng T3 chưa có tiền án, tiền sự, số tiền dùng để đánh bạc không đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc nên Công an xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh, ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phan Quốc D và Thạch Thị Mộng T3 mỗi người với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc.
Về vật chứng: Hiện nay, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Trà Vinh, đang tạm giữ 01 bộ bài tây (loại bài 52 lá) đã qua sử dụng; tiền Việt Nam 700.000 đồng.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Đồng Thị N, Trần Minh T1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Trong quá trình tiến hành tố tụng tại cơ quan điều tra các bị cáo không bị bức cung, không bị cưỡng ép, lời khai của các bị cáo là tự giác, đúng với hành vi phạm tội của các bị cáo.
Qua tranh luận công khai, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành thực hiện quyền công tố quyết định giữ nguyên cáo trạng đã truy tố, kết luận và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đồng Thị N, Trần Minh T1 phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Đồng Thị N, Trần Minh T1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đồng Thị N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; số tiền đánh bạc không lớn, có thân nhân là Liệt sĩ, bị cáo là người cao tuổi. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Trần Minh T1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiệm trọng; số tiền đánh bạc không lớn; bị cáo bị bệnh tai biến. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng cho bị cáo theo quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị:
+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Đồng Thị N mức án tù từ 09 tháng đến 01 năm tù; nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tính từ ngày tuyên án.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Minh T1 mức án tù từ 06 tháng đến 09 tháng nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án.
Về vật chứng và xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xứ áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy 01 (Một) bộ bài Tây đã qua sử dụng; tịch thu số tiền Việt Nam 700.000 đồng (trên chiếu bạc và 190.000 đồng và 510.000 đồng xung quanh nơi đánh bạc) sung ngân sách nhà nước.
Bị cáo Đồng Thị N và bị cáo Trần Minh T1 không tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát, thống nhất với kết luận của Viện kiểm sát. Phát biểu lời nói sau cùng của các bị cáo là đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo và cho các bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi và các quyết định tố tụng các cơ quan tiến hành tố tụng:
Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã thẩm tra các Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, thấy rằng các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều đúng quy định pháp luật, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến nào khác phản đối các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nên các quyết định và hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền của người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Đồng Thị N, Trần Minh T1 đã khai, hoàn toàn thừa nhận hành vi đánh bạc (chơi bài tiến lên 6 lá). Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội, vật chứng thu giữ, phù hợp với bản tự khai, lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của những người làm chứng, phù hợp với cáo trạng đã truy tố các bị cáo. Mặc dù tại thời điểm đánh bạc bị phát hiện, bị cáo Đồng Thị N, Trần Minh T1 và các con bạc sử dụng số tiền để đánh bạc chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự; nhưng do bị cáo N đã có 01 tiền án vào 20/10/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tuyên phạt 20.000.000 đồng về tội đánh bạc, đến ngày 15/11/2023 bị cáo mới chấp hành xong bản án. Bị cáo Trần Minh T1 vào ngày 12/4/2023 bị Công an xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh, ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, số tiền 1.500.000 đồng, về hành vi đánh bạc, đã chấp hành xong vào ngày 21/4/2023, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Nên cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh truy tố, kết luận và đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên Tòa tuyên bố bị cáo Đồng Thị N, bị cáo Trần Minh T1 phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai đối với các bị cáo. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đồng Thị N, Trần Minh T1 phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
[3] Xét thấy hành vi của bị cáo Đồng Thị N, bị cáo Trần Minh T1 thể hiện tính trái pháp luật, nguy hiểm cho xã hội với lỗi cố ý trực tiếp. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo nhận thức được hành vi của mình, nhưng do vụ lợi các bị cáo và các con bạc sát phạt với nhau nhằm chiếm đoạt tiền của nhau; hành vi đó không những gây mất trật tự, trị an địa phương gây bất bình trong nhân dân. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo N, bị cáo T1 có năng lực, trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
[4] Bị cáo Đồng Thị N và bị cáo Trần Minh T1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Bị cáo Đồng Thị N sau khi bị bắt giữ đã thật thà khai báo và thành khẩn nhận tội tại phiên tòa hôm; số tiền bị cáo sử dụng đánh bạc không lớn, có thân nhân là Liệt sĩ, bị cáo là người cao tuổi. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trước khi phạm tội lần này, bị cáo Đồng Thị N đã có 01 tiền án, vào 20/10/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tuyên phạt 20.000.000 đồng về tội đánh bạc, nhưng bị cáo không từ bỏ việc đánh bạc ăn tiền trái quy định pháp luật, bị cáo nhận thức được việc đánh bạc ăn thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, bị xử lý hình sự nhưng bị cáo vẫn bất chấp. Hội đồng xét xử cần tuyên một mức án có thời hạn đối với bị cáo để răn đe và phòng ngừa tội phạm.
- Đối với bị cáo Trần Minh T1 sau khi bị bắt giữ đã thật thà khai báo và thành khẩn nhận tội tại phiên tòa hôm nay; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, số tiền đùng đánh bạc giá trị không lớn; bị cáo bị bệnh tai biến. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, trước khi phạm tội lần này, bị cáo Trần Minh T1 đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, đến khi thực hiện hành vi lần này vẫn chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, nhưng bị cáo không từ bỏ việc đánh bạc ăn tiền trái quy định pháp luật, bị cáo nhận thức được việc đánh bạc ăn thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, bị xử lý hình sự nhưng bị cáo vẫn bất chấp. Hội đồng xét xử cần tuyên một mức án có thời hạn đối với bị cáo T1 để răn đe và phòng ngừa tội phạm.
Nhưng do bị cáo Đồng Thị N và bị cáo Trần Minh T1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và bị truy tố trong trường hợp sử dụng tình tiết “đã bị kết án; xử phạt vi phạm hành chính” để cấu thành tội ở lần này nên Hội đồng xét xử không cần thiết cách ly đối với các bị cáo mà áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo như quan điểm của Viện kiểm sát cũng đủ để giáo dục bản thân các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[6] Về vật chứng và xử lý vật chứng:
Sau khi kết thúc điều tra, Công an huyện C tạm giữ: 01 (một) bộ bài Tây đã qua sử dụng, tiền Việt Nam 700.000 đồng; trong đó trên chiếu bạc 190.000 đồng; ngoài chiếu bạc 510.000 đồng.
- Đối với 01 (Một) bộ bài Tây đã qua sử dụng là vật chứng, tang vật dùng đánh bạc nên tịch thu để tiêu hủy.
- Đối với số tiền 700.000 đồng có số tiền bị cáo và các con bạc dùng để đánh bạc và khoản tiền không ai thừa nhận nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
[7] Về án phí: Do bị cáo Đồng Thị N là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên bị cáo Đồng Thị N được miễn án phí. Bị cáo Trần Minh T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Đồng Thị N phạm tội “Đánh bạc”;
Phạt bị cáo Đồng Thị N 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Đồng Thị N cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh nơi bị cáo cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo có thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Trần Minh T1 phạm tội “Đánh bạc”;
Phạt bị cáo Trần Minh T1 06 (Sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng, tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Trần Minh T1 cho Ủy ban nhân dân phường G1, thành phố T, tỉnh Trà Vinh nơi bị cáo cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo có thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) bộ bài Tây 52 lá đã qua sử dụng.
- Tuyên tịch thu số tiền 700.000 đồng sung vào Ngân sách nhà nước.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; áp dụng Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí cho bị cáo Đồng Thị N; buộc bị cáo Trần Minh T1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm, bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để xin Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử lại phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Hùng |
Bản án số 74/2023/HS-ST ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TRÀ VINH về hình sự (tội đánh bạc)
- Số bản án: 74/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên 2 bị cáo phạm tội đánh bạc
