Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2024/HNGÐST

Ngày: 16/7/2024

V/v “Xin ly hôn, chia tài sản chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

Với Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Lan Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hiệp

Bà Nguyễn Thị Ngọc Hà

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Út -Thư ký TAND tỉnh Đồng Nai

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 65/2019/HNGÐST ngày 14 tháng 6 năm 2019 về việc “Xin ly hôn, chia tài sản chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2023/QĐST-HNGĐ ngày 20/11/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 62/2023/QÐST-HNGĐ ngày 19/12/2023, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 03/2024/QÐST-HNGĐ ngày 18/01/2024; Thông báo mở lại phiên tòa số 140/2024/TB-TA ngày 18/6/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Đỗ Quốc M, sinh năm 1985.

HKTT: 101/7, tổ C, khu A, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Địa chỉ tạm trú: Tổ 21, khu D, ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Huy H thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ.

- Bị đơn: Chị Hà Thị N, sinh năm 1989.

HKTT: 101/7, tổ C, khu A, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Địa chỉ liên hệ: Bệnh viện Đ1 (khu A) – Số B, đường Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đặng Thị Tuyết H1, sinh năm 1963 và ông Đỗ Quốc T, sinh năm 1956 (chết ngày 16/02/2024).

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông T:

+ Bà Đặng Thị Tuyết H1, sinh năm 1963 (Vợ ông T)

+ Chị Đỗ Thị Thúy H2, sinh năm 1983 (Con ông T)

Cùng địa chỉ: Tổ F, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

+ Anh Đỗ Quốc M, sinh năm 1985 (con ông T).

Địa chỉ: Tổ B, khu D, ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

(Anh M, chị N, luật sư H có mặt; bà H1 và chị H2 xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nguyên đơn anh Đỗ Quốc M trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Hà Thị N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai vào tháng 9/2011. Thời gian đầu hai vợ chồng chung sống hạnh phúc. Từ năm 2015, anh phát hiện chị N thường xuyên dùng điện thoại để nói chuyện yêu đương với người khác, không chú tâm tới gia đình. Anh đã nhắc nhở nhiều lần nhưng chị N vẫn không thay đổi nên dẫn đến mâu thuẫn giữa hai bên ngày càng trầm trọng hơn. Từ tháng 01/2016, anh và chị N sống ly thân tới nay. Vào tháng 3/2018, anh đã nộp đơn yêu cầu ly hôn với chị N nhưng sau đó rút đơn để hai bên có thời gian hàn gắn. Tuy nhiên, từ đó đến nay tình cảm vợ chồng vẫn không thể hàn gắn được. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó anh đề nghị tòa án giải quyết cho anh ly hôn với chị N.

- Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Đỗ Quốc Đ, sinh ngày 07/3/2012 và cháu Đỗ Hà T1, sinh ngày 05/01/2015. Cháu Đ có nguyện vọng muốn ở với cha và cháu T1 có nguyện vong muốn ở với mẹ nên nay ly hôn, anh xin nuôi cháu Đ và đồng ý giao cháu T1 cho chị N nuôi dưỡng; tạm thời không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Hiện nay các khoản nợ chung đều không còn, nhưng trong thời kỳ hôn nhân thì anh và chị N có vay nợ của Quỹ Tín Dụng nhân dân cơ sở L (gọi tắt là Quỹ tín dụng) số tiền 300.000.000đ và Ngân hàng thương mại cổ phần S chi nhánh Đ2 (gọi tắt là Ngân hàng) số tiền 360.000.000đ. Anh đã thanh toán tiền gốc và lãi của hai khoản vay trên với số tiền 534.000.000đ cho Quỹ tín dụng và số tiền 498.240.000đ cho Ngân hàng. Vì vậy, anh đề nghị Tòa án chia đôi số nợ chung này và buộc chị N trả lại ½ số tiền nợ là 516.120.000đ cho anh.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, anh không yêu cầu chị N phải trả số tiền 516.120.000đ nữa, anh chỉ đề nghị chị N hỗ trợ số tiền 100.000.000₫ anh đã trả nợ cho Quỹ tín dụng và Ngân hàng.

- Về yêu cầu phản tố chia tài sản của chị N anh có ý kiến như sau:

+ Đối với nhà và đất thuộc thửa số 192, tờ bản đồ số 26, xã L, huyện L mà chị N yêu cầu chia có nguồn gốc nhận chuyển nhượng từ năm 2012. Số tiền mua nhà, đất là do bố mẹ ruột anh là ông Đỗ Quốc T và bà Đặng Thị Tuyết H1 ở Phú Thọ vay mượn bà con và tiền của bố mẹ anh. Anh chỉ là người đứng tên giùm nên nhà, đất này không phải là tài sản chung của vợ, chồng anh mà là tài sản của bố mẹ anh. Vì vậy, anh không đồng ý với yêu cầu chia nhà, đất trên của chị N. Hiện nay nhà, đất đang để trống.

+ Đối với chiếc xe ô tô hiệu Kia Caren, biển số 60A – 21828: Nay chị N đã rút yêu cầu chia chiếc xe nên anh không có ý kiến gì.

Về giá trị tài sản theo chứng thư Thẩm định giá số 192 ngày 19/01/2021 của Công ty Cổ phần T3 thì anh thống nhất với kết quả thẩm định giá.

Theo bị đơn chị Hà Thị N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh M quen nhau và tìm hiểu nhau được gia đình hai bên đồng ý nên đã đi đến hôn nhân và được Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy đăng ký kết hôn vào tháng 9/2011. Sau khi kết hôn, chị và anh M tạo dựng cuộc sống mua được nhà và sinh được hai cháu là Đỗ Quốc Đ và cháu Đỗ Hà T1. Cuộc sống gia đình hạnh phúc cho đến cuối năm 2016 khi chị đi làm trở lại thì phát sinh mâu thuẫn. Do anh M không muốn chị đi làm nên đã thường xuyên kiếm cớ bắt chị nghỉ làm nhưng chị không đồng ý. Vì vậy anh M luôn nghi ngờ chị có người khác bên ngoài và thường xuyên dùng lời lẽ thô tục xúc phạm, đánh đập chị và xúi giục các con nghĩ không tốt về mẹ. Vì hạnh phúc gia đình chị đã chịu đựng nhẫn nhịn nhưng càng nhẫn nhịn thì anh M càng làm tới. Anh đã bắt con trai về quê ở với ông bà nội mà không hỏi ý kiến chị, chia cắt tình cảm mẹ con chị, thay ổ khóa nhà không cho chị vào nhà, đưa mẹ chồng vào chửi bới chị hàng ngày tạo sức ép về tinh thần. Sau đó, anh M đã nộp đơn ly hôn ra tòa vào tháng 01/2018 nhưng chị không đồng ý nên anh M đã rút đơn. Nay anh M nộp đơn lại yêu cầu được ly hôn thì chị đồng ý ly hôn với anh M vì chị cũng không còn tình cảm vợ chồng với anh M.

- Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Đỗ Quốc Đ, sinh ngày 07/3/2012 và cháu Đỗ Hà T1, sinh ngày 05/01/2015. Trong quá trình giải quyết, chị xin nuôi cháu T1 và đồng ý giao cháu Đ cho anh M nuôi dưỡng.

Tuy nhiên, nay chị xin được nuôi cả hai cháu Đ và T1 vì muốn cả hai cháu đều có sự chăm sóc của mẹ; ngoài ra cháu Đ đang ở với ông bà nội nhưng hiện nay ông nội đã mất chỉ còn mình bà nội chăm sóc cháu sẽ khó khăn. Chị không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung:

Tại đơn phản tố ngày 02/11/2018, chị yêu cầu Tòa án chia đôi tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của chị và anh M bao gồm:

+ 01 căn nhà và đất thuộc thửa đất số 192, tờ bản đồ số 26, tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai là do vợ chồng chị mua trong thời kỳ hôn nhân với số tiền 470.000.000đ. Nguồn tiền để mua gồm có vay của bố mẹ ruột chị 50.000.000₫ (anh M đã trả hết); vay của ông C, bà H3 300.000.000đ (tương đương 10.000 Euro), số tiền còn lại là tiền của hai vợ chồng chị. Hiện nay, căn nhà trên đang để trống không ai sử dụng trong khi chị đang phải thuê nhà để ở nên chị có nguyện vọng được nhận nhà, đất để mẹ con chị có nơi ở ổn định và thanh toán lại cho anh M ½ giá trị nhà, đất theo Chứng thư Thẩm định giá.

Về giá trị tài sản theo chứng thư Thẩm định giá số 192 ngày 19/01/2021 của Công ty Cổ phần T3 thì chị thống nhất với kết quả thẩm định giá.

+ 01 chiếc xe ô tô hiệu Kia Caren, biển số 60A – 21818 (Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 029869 do Công an tỉnh Đ cấp ngày 05/6/2015 cho anh Đỗ Quốc M): Chị đồng ý giao xe cho anh M sử dụng và anh M thanh toán cho chị ½ giá trị chiếc xe bằng tiền.

Ngày 07/9/2023, chị xác định không yêu cầu chia chiếc xe và đã rút yêu cầu đối với việc chia tài sản chung đối với chiếc xe trên.

- Về nợ chung: Tại đơn phản tố ngày 02/11/2018, chị đề nghị Tòa án chia nợ chung của vợ chồng, mỗi bên chịu ½ số nợ chung, cụ thể bao gồm các khoản nợ sau:

+ Nợ ông Đỗ Quốc C1, bà Đỗ Thị Thu H4, số tiền 10.000 Euro (tương đương 300.000.000₫).

+ Nợ Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở L (Một trăm chín mươi bốn triệu đồng)

+ Nợ Ngân hàng Thương mại cổ phần S1, Chi nhánh Đ2 37.000.000đ.

Ngày 07/9/2023, chị xác định lại các khoản nợ chung đã trả hết nên rút yêu cầu đối với phần nợ chung.

Đối với số tiền nợ Quỹ tín dụng và Ngân hàng chị xác định chị và anh M đã trả xong nên anh M yêu cầu chị thanh toán lại ½ số tiền anh M đã trả nợ là 516.120.000đ thì chị không đồng ý vì số tiền trả nợ là số tiền chung của hai vợ chồng gồm tiền lương của hai vợ chồng, tiền cho thuê xe.

Tại phiên tòa hôm nay, anh M không yêu cầu chia nợ chung mà chỉ đề nghị chị hỗ trợ số tiền 100.000.000₫ đã trả nợ cho Quỹ tín dụng và Ngân hàng thì chị đồng ý.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Quốc T, bà Đặng Thị Tuyết H1 trình bày:

Ông bà là cha mẹ ruột của anh Đỗ Quốc M. Việc li hôn giữa anh M và chị Nguyên do hai anh chị tự quyết định, ông bà không có ý kiến gì.

Về nguồn gốc nhà, đất chị N yêu cầu chia tài sản chung: Vào năm 2012 khi hai anh chị M, N phải ở nhà trọ chật chội, để tạo điều kiện cho các con cháu có chỗ ở tốt hơn ông bà đã vay mượn để mua nhà và để cho anh M đứng tên đối với căn nhà trên. Do mối quan hệ gia đình nên ông bà không yêu cầu anh M phải viết giấy vay mượn tiền. Vì vậy, nay chị N yêu cầu chia tài chung đối với căn nhà trên thì ông bà không đồng ý. Ông bà thống nhất để lại nhà, đất trên cho 2 cháu Đ và cháu T1 khi các cháu trưởng thành.

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông T bà Đặng Thị Tuyết H1, chị Đỗ Thị Thúy H2, anh Đỗ Quốc M trình bày:

Bà H1 và anh M, chị H2 thống nhất ý kiến của ông T, bà H1 đã trình bày trước đây tại Tòa án và không có ý kiến gì khác.

Việc giải quyết về nhà, đất trong vụ án đều theo quyết định của bà H1.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh M và chị N là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên trong thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên phát sinh nhiều mâu thuẫn và bất đồng quan điểm. Tại phiên tòa hai bên cũng đã thừa nhận đã nhiều lần vợ chồng cố gắng hàn gắn nhưng không được, cho đến nay tình cảm vợ chồng giữa anh M và chị N không còn, cả hai đều đồng ý ly hôn nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

- Về con chung: Do cháu Đ có nguyện vọng muốn ở với cha và cháu T1 có nguyện vọng muốn ở với mẹ, hiện nay hai cháu cũng đã ổn định cuộc sống nên đề nghị giao cháu Đỗ Quốc Đ, sinh ngày 07/3/2012 cho anh M chăm sóc, nuôi dưỡng và giao cháu Đỗ Hà T1, sinh ngày 05/01/2015 cho chị N chăm sóc nuôi dưỡng. Do không ai yêu cầu nên tạm thời không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu tòa án giải quyết.

+ Đối với yêu cầu chia chiếc xe ô tô hiệu Kia Caren, biển số 60A – 21828 hiện nay chị N đã rút yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết.

+ Về yêu cầu phản tố chia tài sản của chị N đối với nhà và đất thuộc thửa số 192, tờ bản đồ số 26, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai xét nguồn gốc nhà, đất trên được nhận chuyển nhượng từ năm 2012 bằng nguồn tiền do cha, mẹ ruột anh M là ông Đỗ Quốc T và bà Đặng Thị Tuyết H1 ở Phú Thọ. Ông T và bà H1 chỉ để anh M là con trai đứng tên giùm để thuận tiện công việc làm ăn của anh M. Vì vậy, nhà, đất trên không phải là tài sản chung của vợ, chồng anh M mà là tài sản của ông T, bà H1. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không chấp nhận yêu cầu chia tài sản của chị N.

- Về nợ chung: Hiện nay các khoản nợ chung đều không còn, nhưng trong thời kỳ hôn nhân thì anh M và chị N có vay nợ của Quỹ Tín Dụng nhân dân cơ sở L (gọi tắt là Quỹ tín dụng) số tiền 300.000.000đ và Ngân hàng thương mại cổ phần S chi nhánh Đ2 (gọi tắt là Ngân hàng) số tiền 360.000.000đ.

Trước đây anh M đề nghị Tòa án chia đôi số nợ chung 1.032.000.000₫ anh đã trả nợ cho Quỹ tín dụng và Ngân hàng và buộc chị N trả lại ½ số tiền nợ trên là 516.120.000đ. Tại phiên tòa phúc thẩm, anh M không yêu cầu chị N phải trả số tiền 516.120.000₫ nữa, anh M chỉ đề nghị chị N hỗ trợ số tiền 100.000.000₫ đã trả nợ và chị N cũng đồng ý nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và những người tham gia tố tụng: Thực hiện đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về đường lối giải quyết vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Cả anh M và chị N đều xác định mâu thuẫn đã trầm trọng và không còn tình cảm vợ chồng, đồng ý ly hôn nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.

- Về con chung: Đề nghị giao cháu Đỗ Quốc Đ, sinh ngày 07/3/2012 cho anh M chăm sóc, nuôi dưỡng và giao cháu Đỗ Hà T1, sinh ngày 05/01/2015 cho chị N chăm sóc nuôi dưỡng; tạm thời không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung:

+ Đối với yêu cầu chia 01 chiếc xe ôtô nhãn hiệu Kia-Caren biển số 60A-21818 do anh M đứng tên theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 029869 do Công an tỉnh Đ cấp ngày 05/6/2015.

Ngày 07/9/2023 chị N có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về yêu cầu chia tài sản chung đối với chiếc xe trên, xét việc rút một phần yêu cầu của chị N là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu này.

+ Đối với nhà và đất thuộc thửa đất số 192, tờ bản đồ số 26, tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai:

Anh M cho rằng vào năm 2012, chồng anh chuyển nhượng thửa đất từ nguồn của cha, mẹ ruột anh là ông T, bà H1. Anh chỉ là người đứng tên giùm nên phần đất và nhà này ông xác định không phải là tài sản chung vợ, chồng mà là tài sản của cha mẹ anh. Chị N cho rằng nguồn tiền mua đất và nhà do mượn của bố mẹ ruột chị 50.000.000đ, vay của ông C, bà H4 300.000.000đ (tương đương 10.000 Euro), số tiền còn lại là tiền của hai vợ chồng anh chị.

Xét thấy nhà và đất được mua trong thời kỳ hôn nhân, anh M cho rằng đất của bố mẹ anh mua, anh chỉ đứng tên giùm nhưng anh cũng không có chứng cứ chứng minh do đó xác định nhà và đất là tài sản chung của vợ chồng, các bên không chứng minh được bên nào đóng góp nhiều hơn do đó chia đôi anh M và chị N mỗi người 50% tài sản.

Chị N cung cấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất và tài sản trên đất để chứng minh hiện chị không có nhà để ở phải đi thuê và có nguyện vọng được nhận nhà, đất và thanh toán lại cho anh M ½ giá trị nhà, đất theo giá trị Chứng thư Thẩm định giá.

Còn anh M cho rằng nhà và đất là tài sản của bố mẹ anh nên anh không có ý kiến. Tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm ngày 18/01/2024, anh M cho rằng hiện anh cũng đang ở nhà thuê tại tổ B, khu phố D, ấp T, xã L, huyện L. Tòa án đã tạm ngừng phiên tòa để tiến hành xác minh tại Công an xã L, kết quả xác minh xác định: ông Đỗ Quốc M có thông tin cá nhân như nêu trên không đăng ký thường trú và không đăng kí tạm trú tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Về nội dung ông Đỗ Quốc M có thuê nhà tại địa chỉ: tổ B, khu D, ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai hay không. Vì không có thông tin của người cho thuê nhà nên không xác định được nhà cho thuê cụ thể. Quá trình xác minh đến nay chưa phát hiện ông Đỗ Quốc M thuê nhà tại tổ B, khu D, ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Qua đó có thể thấy lời khai của anh M là không có căn cứ.

Xét thấy chị N và cháu T1 hiện không có nhà để ở do đó cần giao nhà và đất cho chị N quản lý, sử dụng; chị N thanh toán lại 50% giá trị cho anh N theo chứng thư thẩm định giá.

- Về nợ chung: Tại đơn phản tố ngày 02/11/2018, chị N đề nghị Tòa án giải quyết phần nợ chung của ông Đỗ Quốc C1, bà Đỗ Thị Thu H4 số tiền 300.000.000đ (tương đương 10.000 Euro); Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở L số tiền 194.000.000đ; Ngân hàng Thương mại cổ phần S, Chi nhánh Đ2 số tiền 37.000.000đ. Ngày 07/9/2023, chị N xác định đã trả hết nợ chung nên hiện không có nợ chung nên đã rút yêu cầu giải quyết về nợ chung.

Còn anh M cho rằng anh đã trả cho Q Tín Dụng nhân dân cơ sở L số tiền 534.000.000đ và 498.240.000đ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S chi nhánh Đ2 do đó anh đề nghị chia đôi số tiền và buộc chị N trả lại ½ số tiền là 516.120.000₫ cho anh.

Tuy nhiên, tại phiên tòa anh M chỉ yêu cầu phía chị N thanh toán lại số tiền 100.000.000đ. Chị N cũng tự nguyện đồng ý do đó đề nghị ghi nhận sự tự nguyện của chị N.

- Về án phí: Các đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật:

Nguyên đơn anh Đỗ Quốc M khởi kiện yêu cầu xin ly hôn; bị đơn chị Hà Thị N yêu cầu phản tố chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là nhà và đất thuộc thửa đất là 01 căn nhà và đất thuộc thửa đất số 192, tờ bản đồ số 26, tại xã L, huyện L. Do đó, căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu phản tố của bị đơn Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Xin ly hôn, tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn và bị đơn cư trú tại huyện L, tỉnh Đồng Nai. Trong quá trình giải quyết vụ án, phát sinh người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Đỗ Quốc C1 và bà Đỗ Thị Thu H4 cư trú tại Cộng Hòa Liên bang Đ vì vậy căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

[1.3] Về tư cách đương sự trong vụ án:

- Anh M là người khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị N nên xác định anh M là nguyên đơn, chị N là bị đơn.

- Ông Đỗ Quốc T, bà Đặng Thị Tuyết H1 theo anh M thì tài sản chung chị N yêu cầu chia là của bố mẹ của anh M nên ông T, bà H1 được xác định là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông T chết nên vợ và các con là bà Đặng Thị Tuyết H1, anh Đỗ Quốc M, chị Đỗ Thị Thúy H2 được xác định là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông T.

- Đối với Người đại diện theo ủy quyền của đương sự:

+ Ngày 12/2/2019, anh Đỗ Quốc M ủy quyền cho anh Nguyễn Huy H giải quyết yêu cầu liên quan đến tranh chấp chia tài sản chung, được UBND xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai chứng thực hợp lệ nên được chấp nhận.

Ngày 18/12/2023, anh M chấm dứt ủy quyền với anh Nguyễn Huy H.

+ Ngày 31/7/2019 chị Hà Thị N ủy quyền cho anh Trần Xuân H5 đối với giải quyết yêu cầu chia tài sản chung, được UBND xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai chứng thực hợp lệ nên được chấp nhận.

Ngày 08/7/2024, chị N chấm dứt ủy quyền với anh Trần Xuân H5.

- Đối với ông Đỗ Quốc T2, ông Đỗ Quốc C1 và bà Đỗ Thị Thu H4 do các ông bà không có yêu cầu về phần trả tiền nợ trong vụ án này và chị N xác định phần nợ ông C1, bà H4 đã trả xong và xin rút yêu cầu giải quyết nợ chung đối với ông C1, bà H4 nên Hội đồng xét xử không đưa ông T2, ông C1 và bà H4 tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Anh Đỗ Quốc M và chị Hà Thị N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 94 ngày 11/9/2011 nên căn cứ các Điều 9, Điều 11 và Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 được xác định là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nay anh M khởi kiện vụ án xin ly hôn nên căn cứ Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết.

Xét yêu cầu xin ly hôn của anh M nhận thấy: Anh M và chị N đều thừa nhận sau một thời gian chung sống hạnh phúc thì từ năm 2016 giữa anh chị thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, cả hai đã cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhiều lần nhưng không thành. Vào tháng 3/2018, anh M đã nộp đơn yêu cầu ly hôn với chị N nhưng sau đó rút đơn để hai bên có thời gian hàn gắn nhưng đến nay mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể khắc phục được. Nay anh M và chị N đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh M yêu cầu ly hôn thì chị N đồng ý, do vậy căn cứ Điều 55, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện ly hôn của anh M và chị N.

[3] Về con chung:

Anh M và chị N có 02 con chung là cháu Đỗ Quốc Đ, sinh ngày 07/3/2012 và cháu Đỗ Hà T1, sinh ngày 05/01/2015. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh M và chị N thông nhất giao cháu Đ cho anh M nuôi dưỡng và giao cháu T1 cho chị N nuôi dưỡng.

Tuy nhiên tại phiên tòa ngày 18/01/2024 và phiên tòa hôm nay, chị N yêu cầu được nuôi cả hai cháu Đ và T1; anh M yêu cầu được nuôi cháu Đ, cả hai đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Cả chị N và anh M đều có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng các con, đây là nguyện vọng chính đáng của các bậc làm cha mẹ. Cả hai đều có công việc, thu nhập ổn định, đảm bảo điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc các con. Xét thấy từ khi ly thân đến nay, cháu T1 do chị N chăm sóc, nuôi dưỡng; cháu Đ do phía anh M chăm sóc, nuôi dưỡng; nay cháu T1 có nguyện vọng được ở với mẹ, cháu Đ có nguyện vọng được ở với bố và bà nội, vì vậy để ổn định cuộc sống của hai cháu, hội đồng xét xử giao cháu Đỗ Quốc Đ, sinh ngày 07/3/2012 cho anh M chăm sóc, nuôi dưỡng và giao cháu Đỗ Hà T1, sinh ngày 05/01/2015 cho chị N chăm sóc nuôi dưỡng; tạm thời không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về tài sản chung:

[4.1] Đối với yêu cầu chia 01 chiếc xe ôtô nhãn hiệu Kia-Caren biển số 60A-21818 do anh M đứng tên theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 029869 do Công an tỉnh Đ cấp ngày 05/6/2015:

Xét thấy vào ngày 07/9/2023 chị N có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về yêu cầu chia tài sản chung đối với chiếc xe trên, xét việc rút một phần yêu cầu của chị N là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định pháp luật nên căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu chia chiếc xe trên của chị N.

[4.2] Đối với yêu cầu chia tài sản chung là nhà và đất thuộc thửa đất số 192, tờ bản đồ số 26, tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai:

Chị N yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là nhà và đất thuộc thửa đất số 192, tờ bản đồ số 26, tại xã L, huyện L là do anh chị nhận chuyển nhượng trong thời kỳ hôn nhân từ nguồn tiền mượn của bố mẹ ruột chị 50.000.000đ; vay của ông C, bà H4 300.000.000đ (tương đương 10.000 Euro) và tiền của hai vợ chồng. Còn anh M xác định nhà, đất tại địa chỉ số A, tổ C, khu A, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai trên là của bố mẹ ruột anh là ông Đỗ Quốc T và bà Đặng Thị Tuyết H1 bỏ tiền và vay mượn thêm để nhận chuyển nhượng và cho anh đứng tên để thuận tiện công việc làm ăn nên không đồng ý chia tài sản này.

Theo các tài liệu, chứng cứ được sao lục tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - chi nhánh L1 thể hiện nhà và đất thuộc thửa đất số 192, tờ bản đồ số 26, tại xã L, huyện L được anh M nhận chuyển nhượng từ bà Hoàng Thị Thu H6 vào ngày 31/01/2012; sau đó anh M tiến hành thủ tục sang tên và đến ngày 13/3/2012 được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 160992 (BL 157- 166). Như vậy, nhà, đất trên được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân, anh M cho rằng nguồn tiền để nhận chuyển nhượng thửa đất trên là của ông T và bà H1 nhưng không được chị N thừa nhận và cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho việc này. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định nhà và đất thuộc thửa đất số 192, tờ bản đồ số 26, tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai là tài sản chung của anh M, chị N. Hai bên không chứng minh được bên nào đóng góp nhiều hơn nên Hội đồng xét xử xác định anh M, chị N có công sức đóng góp bằng nhau do đó chia đôi anh M và chị N mỗi người 50% tài sản chung.

Nay chị N có nguyện vọng nhận nhà, đất và thanh toán ½ giá trị tài sản cho anh M vì chị chưa có nhà ở, đang phải ở nhà thuê. Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 18/01/2024, anh M cho rằng hiện anh cũng đang ở nhà thuê tại tổ B, khu phố D, ấp T, xã L, huyện L nên không đồng ý giao nhà, đất cho chị N quản lý, sử dụng. Tuy nhiên, theo kết quả xác minh của Tòa án tại Công an xã L – huyện L thể hiện: “...Ông Đỗ Quốc M có thông tin cá nhân như nêu trên không đăng ký thường trú và tạm trú tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Về nội dung ông Đỗ Quốc M có thuê nhà tại địa chỉ: tổ B, khu D, ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai hay không vì không có thông tin của người cho thuê nhà nên không xác định được nhà cho thuê cụ thể...”; anh M cũng không cung cấp được chứng cứ thể hiện anh đang ở nhà thuê nên lời khai của anh M là không có căn cứ. Còn chị N cung cấp Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất và tài sản trên đất để chứng minh hiện chị không có nhà để ở phải đi thuê. Vì vậy, để tạo điều kiện cho chị N có nơi ở ổn định và chăm sóc cháu T1, Hội đồng xét xử giao nhà và đất có diện tích 101,0m² toạ lạc tại thửa số 192, tờ bản đồ số 26, tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai cho chị N quyền quản lý, sử dụng và chị N có trách nhiệm phải thanh toán cho anh M ½ giá trị tài sản.

Theo Chứng thư Thẩm định giá số 192 ngày 19/01/2021 của Công ty Cổ phần T3 xác định nhà, đất đang tranh chấp yêu cầu chia có giá trị là 1.323.660.000₫ (một tỷ ba trăm hai mươi ba triệu sáu trăm sáu mươi ngàn đồng) nên chị N phải thanh toán cho anh M số tiền 661.830.000đ (sáu trăm sáu mươi mốt triệu tám trăm ba mươi ngàn đồng).

Anh M có trách nhiệm phải giao cho chị Nguyên bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 160992 do UBND huyện L cấp ngày 13/3/2012 để chị N liên hệ Cơ quan quản lý đất đai huyện L cập nhật, chỉnh lý lại tên người sử dụng theo quy định pháp luật.

[5] Về nợ chung:

Tại phiên tòa, anh M và chị N đều xác định hiện nay nợ chung không còn. Ngày 07/9/2023 chị N có đơn xin rút yên cầu giải quyết về nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, anh M cho rằng đã trả cho Q Tín Dụng nhân dân cơ sở Long Thành số tiền 534.000.000đ và Ngân hàng Thương mại cổ phần S chi nhánh Đ2 số tiền 498.240.000đ, anh đề nghị Tòa án buộc chị N trả lại ½ số tiền trên là 516.120.000đ. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay, anh M đề nghị chị N hỗ trợ số tiền 100.000.000₫ anh đã trả nợ cho Quỹ tín dụng và Ngân hàng và chị N cũng đồng ý. Xét đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các bên, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[6] Về án phí và chi phí tố tụng:

[6.1] Về án phí:

Anh M phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo biên lai số 006579 ngày 03/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Anh M đã nộp xong.

Anh M phải nộp 30.473.200đ (Ba mươi triệu bốn trăm bảy mươi ba ngàn hai trăm đồng) án phí DSST.

Chị N phải nộp 30.473.200₫ (Ba mươi triệu bốn trăm bảy mươi ba ngàn hai trăm đồng) án phí DSST, được trừ vào số tiền 18.000.000đ (mười tám triệu đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 006880 ngày 05/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai nên còn phải nộp tiếp số tiền 12.473.000₫ (Mười hai triệu bốn trăm bảy mươi ba ngàn hai trăm đồng).

[6.2] Về chi phí tố tụng:

Tổng số tiền chi phí tố tụng là 18.219.000đ, các bên yêu cầu giải quyết theo quy định pháp luật nên anh M và chị N mỗi người phải chịu ½ là 9.109.500₫.

Do chị N đã tạm ứng trước toàn bộ số tiền trên nên buộc anh M phải thanh toán lại cho chị N số tiền 9.109.500đ.

[7] Quan điểm của luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn phù hợp một phần với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.

[8] Quan điểm và đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ, phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; khoản 2 Điều 38; khoản 4 Điều 147; Điều 157; Điều 165; Điều 227; Điều 228; Điều 235; khoản 2 Điều 244; Điều 266, Điều 273; Điều 469, Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 9, Điều 11 và Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 33; Điều 51, Điều 55, Điều 57, Điều 58; Điều 59; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của nguyên đơn anh Đỗ Quốc M và chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của bị đơn chị Hà Thị N.

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn của anh Đỗ Quốc M và chị Hà Thị N.

2. Về con chung: Giao cháu Đỗ Quốc Đ, sinh ngày 07/3/2012 cho anh Đỗ Quốc M chăm sóc, nuôi dưỡng và giao cháu Đỗ Hà T1, sinh ngày 05/01/2015 cho chị Hà Thị N chăm sóc nuôi dưỡng, tạm thời không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai.

Anh M và chị N có quyền thăm nom con chung không trực tiếp nuôi dưỡng không ai được cản trở.

Vì lợi ích của các con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung:

3.1. Đình chỉ giải quyết phần chia tài sản chung đối với yêu cầu chia 01 chiếc xe ôtô nhãn hiệu Kia-Caren biển số 60A-21828 do anh M đứng tên theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 029869 do Công an tỉnh Đ cấp ngày 05/6/2015.

3.2. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của anh M, chị N là nhà và đất có diện tích 101,0m² thuộc thửa số 192, tờ bản đồ số 26, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai như sau:

Giao nhà và đất thuộc thửa số 192, tờ bản đồ số 26, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai cho chị Hà Thị N được quyền quản lý, sử dụng.

Chị N phải thanh toán cho anh M số tiền 661.830.000đ (sáu trăm sáu mươi mốt triệu tám trăm ba mươi ngàn đồng).

Anh M phải giao cho chị Nguyên bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 160992 do UBND huyện L cấp ngày 13/3/2012 để hoàn tất thủ tục sang tên quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Chị N được quyền liên hệ Cơ quan quản lý đất đai huyện L cập nhật, chỉnh lý lại tên người sử dụng theo quy định pháp luật. Trường hợp cơ quan thi hành án không thể thu hồi được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có quyền hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 160992 do UBND huyện L cấp ngày 13/3/2012 và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới cho chị N khi Chấp hành viên yêu cầu theo quy định tại Điều 116 Luật Thi hành án dân sự 2008.

4. Về nợ chung: Không có nên không xem xét, giải quyết.

Ghi nhận sự tự nguyện của chị Hà Thị N về việc đồng ý thanh toán cho anh Đỗ Quốc M số tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) trong phần trả nợ cho Q tín dụng nhân dân cơ sở L và Ngân hàng Thương mại cổ phần S, Chi nhánh Đ2.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về án phí:

Anh M phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo biên lai số 006579 ngày 03/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Anh M đã nộp xong.

Anh M phải nộp 30.473.200đ (Ba mươi triệu bốn trăm bảy mươi ba ngàn hai trăm đồng) án phí DSST.

Chị N phải nộp 30.473.200đ (Ba mươi triệu bốn trăm bảy mươi ba ngàn hai trăm đồng) án phí DSST, được trừ vào số tiền 18.000.000đ (mười tám triệu đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 006880 ngày 05/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai nên còn phải nộp tiếp số tiền 12.473.000đ (Mười hai triệu bốn trăm bảy mươi ba ngàn hai trăm đồng).

6. Về chi phí tố tụng:

Anh M phải thanh toán cho chị N số tiền 9.109.500đ (Chín triệu một trăm lẻ chín ngàn năm trăm đồng).

7. Anh M, chị N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bà H1, chị H2 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Nơi nhận:

-VKSND tỉnh;

-THADS tỉnh;

-Các đương sự;

- Luật sư;

- UBND nơi đăng ký kết hôn;

- Lưu (3).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – chủ toạ phiên tòa

Bùi Lan Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2024/HNGÐST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về xin ly hôn, tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

  • Số bản án: 74/2024/HNGÐST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn, tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Về đường lối giải quyết vụ án: - Về quan hệ hôn nhân: Cả anh M và chị N đều xác định mâu thuẫn đã trầm trọng và không còn tình cảm vợ chồng, đồng ý ly hôn nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn. - Về con chung: Đề nghị giao cháu Đỗ Quốc Đ, sinh ngày 07/3/2012 cho anh M chăm sóc, nuôi dưỡng và giao cháu Đỗ Hà T1, sinh ngày 05/01/2015 cho chị N chăm sóc nuôi dưỡng; tạm thời không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger