|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO TỈNH ĐẮK LẮK |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số 74/2024/HSST
Ngày: 16/7/2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAH’LEO, TỈNH ĐẮK LẮK
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Long.
- - Các hội thẩm nhân dân: Ông Y Manh A Drơng
- Ông Bùi Hoàng Sơn.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Hằng Nga – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ea H'leo tham gia phiên toà: ông Trịnh Văn Hai - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 16/7/2024 tại Phòng xử án - Toà án nhân dân huyện Ea H'Leo, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 73/2024/HSST ngày 13 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐXX ngày 01/7/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Vĩ Đ; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 17/11/1993, tại tỉnh Đắk Lắk; CCCD số: [...], cấp ngày 08/7/2021, nơi cấp: Cục C2 về TTXH, Bộ C3; Nơi cư trú: Thôn B, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 10/12; Họ tên cha: Lê Văn H, sinh năm 1954; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1966; Gia đình có 02 người con, bị cáo là con thứ nhất; Họ tên vợ: Trương Thị Thanh C, sinh năm 1994; Bị cáo có 01 người con, sinh năm 2017; Tiền sự, tiền án: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú – Bị cáo có mặt.
* Bị hại:
- Ông Lê Quang V, sinh năm 1955. Địa chỉ: thôn A, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (đã chết).
- Bà Ngô Thị Thu H2, sinh năm 1968. Địa chỉ: thôn A, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk – vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị hại (Lê Quang V), gồm có: bà Ngô Thị Thu H2 (vợ ông V) và các con ông V gồm: chị Lê Thị Thanh T; anh Lêc Quang T1; anh Lê Quang T2; chị Lê Thị Mỹ L; anh Lê Quang T3; anh Lê Quang T4; chị Lê Thị Thu H3 và anh Lê Quang Q.
Người đại diện tham gia tố tụng theo uỷ quyền của gia đình bị hại có anh A Lê Quang Q, sinh năm 1988.
Địa chỉ: thôn A, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk - có mặt.
*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: bà Trương Thị Thanh C, sinh năm 1994. Địa chỉ: thôn E, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk - có mặt.
1
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình bị hại có ông Mai C1 - Luật sư, Công ty TNHH Luật ngày mới thuộc đoàn luật sư T6 – có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Bị cáo Lê Vĩ Đ, bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'leo, truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Lê Vĩ Đ đã có giấy phép lái xe ô tô hạng C. Vào khoảng 19 giờ ngày 14/12/2023, Đ điều khiển xe ô tô tải biển số 47C-295.71 lưu thông trên đường H theo hướng từ Đắk Lắk đi Gia Lai, khi đi đến Km1678+200m thuộc thôn C, xã E, huyện E, thì phát hiện phía trước cùng chiều có xe mô tô đang chuyển hướng từ làn đường bên phải sang làn bên trái nhưng không có tín hiệu báo trước và do khoảng cách quá gần nên bị cáo đánh lái sang làn bên trái để tránh nhưng không tránh được nên xảy ra va chạm với xe mô tô này. Hậu quả, người điều khiển xe mô tô ông Lê Quang V và người ngồi sau xe là bà Ngô Thị Thu H2 bị thương phải nhập viện điều trị, xe mô tô 47D1-304.04 hư hỏng, đến ngày 25/12/2023 ông V tử vong.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 14/12/2023, của Phòng C4 Công an tỉnh Đ xác lập, thể hiện: Chọn mép đường bên trái theo hướng Đắk Lắk đi Gia Lai làm mép đường chuẩn, chọn cột mốc Km 1678+200m nằm ở phần đất bên trái đường H theo hướng Đắk Lắk đi Gia Lai làm điểm cố định để xác định hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông là đoạn đường thuộc Km 1678+200m đường H, thuộc địa bàn thôn C, xã E, huyện E. Là đoạn đường được trải bê tông nhựa tương đối bằng phẳng, lòng đường rộng 11,80m, ở giữa đường có vạch sơn đứt quãng màu vàng chia lòng đường thành hai phần đường xe chạy ngược chiều nhau, phần đường bên phải theo hướng Đắk Lắk đi gia Lai rộng 5m70, phần đường còn lại bên trái rộng 6,10m, hai bên không có lề đường. Tại đoạn đường xảy ra sự việc hai bên không có hệ thống đèn chiếu sáng về ban đêm, không có chướng ngại vật che khuất tầm nhìn. Đo các dấu vết, phương tiện có liên quan đến vụ tai nạn giao thông, như sau: (1) xe ô tô tải biển số 47C-295.71 dừng lại bên trái đường H theo hướng Đắk Lắk đi Gia Lai, đuôi xe hướng về hướng Đắk Lắk, đầu xe hướng về phía Gia Lai, tâm trục bánh trước bên trái của xe xuống mặt đường đo cách mép đường chuẩn là 2,73m, tâm trục bánh sau bên trái của xe xuống mặt đường đo cách mép đường chuẩn là 3,14m. (2) xe mô tô biển số 47D1-304.04 ngã sang phải, nằm trên phần đường bên trái đường H, theo hướng Đắk Lắk đi Gia Lai, tâm trục bánh trước bên trái của xe xuống mặt đường đo cách mép đường chuẩn là 0,2m, tâm trục bánh sau bên trái của xe xuống mặt đường đo cách mép đường chuẩn là 3,06m. (3) Vết chà lốp kích thước (28,20 x 0,30)m nằm ở phần đường bên trái đường H theo hướng từ tỉnh Đắk Lắk đi tỉnh Gia Lai, có chiều hướng từ tỉnh Đắk Lắk đi tỉnh Gia Lai, đo từ tâm đầu vết chà lốp đến mép đường chuẩn là 4,8m, đến điểm cố định là 11m, điểm cuối vết chà lốp là điểm tiếp xúc của mặt dưới lốp trước bên trái của xe ô tô biển số: 47C - 295.71. (4) vết chà lốp kích thước (25,10 x 0,30)m nằm ở phần đường bên trái đường H theo hướng từ tỉnh Đắk Lắk đi tỉnh Gia Lai, có chiều hướng từ tỉnh Đắk Lắk đi tỉnh Gia Lai, đo từ tâm đầu vết chà lốp đến mép đường chuẩn là 5,9m, đến đầu vết chà lốp (3) là 3,7m, điểm cuối vết chà lốp là điểm tiếp xúc của mặt dưới lốp trước bên phải của xe ô tô biển số: 47C - 295.71. (5) vết cày kích thước (14 x 0,10)m nằm ở phần đường bên trái đường H theo hướng từ tỉnh
2
Đắk Lắk đi tỉnh Gia Lai, có chiều hướng từ tỉnh Đắk Lắk đi tỉnh Gia Lai, đo từ tâm đầu vết cày đến mép đường chuẩn là 3,9m, đo đến tâm bánh sau bên trái của xe mô tô xuống mặt đường là 12,5m, điểm cuối vết cày là gác để chân phía trước bên phải của xe mô tô (2).
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được xác định: Điểm va chạm giữa xe ô tô tải biển số 47C - 295.71 và xe mô tô biển số 47D1 – 304.04 là tại tâm điểm đầu vết cày (thứ tự 5) trong biên bản khám nghiệm hiện trường lập ngày 14/12/2023, cách mép đường chuẩn là 3,9m, nằm ở phần đường bên trái theo hướng lưu thông của xe ô tô tải biển số 47C-295.71.
Tại biên bản khám nghiệm phương tiện là xe ô tô tải biển số 47C-295.71 ngày 14/12/2023, của Phòng C4 Công an tỉnh Đ lập, xác định: Đèn chiếu sáng phía trước bên trái bị bể vỡ, kích thước: (0,2 x 0,15)m, tâm vùng bể vỡ đo đến mặt đất là 0,9m; Phần nhựa bảo vệ biển số phía trước bị nứt vỡ, kích thước: (0,33 x 0,16)m; tâm phần nứt vỡ đo đến mặt đất là 0,55m; Mặt nạ ga lăng kim loại phía trước bị móp méo, trầy xước, kích thước: (1,14 x 0,44)m, điểm cao nhất đo tới mặt đất là 1,24m, điểm thấp nhất đo tới mặt đất là 0,8m; Mặt nạ ga lăng nhựa phía trước bảo vệ lọc gió bị trầy xước, kích thước: (0,3 x 0,17)m, điểm cao nhất đo tới mặt đất là 0,86m, điểm thấp nhất đo tới mặt đất là 0,67m; Cản trước bên trái bị trầy xước, rách vỡ, kích thước: (01 x 0,3)m, điểm thấp nhất đo tới mặt đất là 0,35m. Hệ thống lái, hệ thống phanh, đèn chiếu sáng hoạt động bình thường.
Tại biên bản khám nghiệm phương tiện là xe mô tô biển số 47D1 – 304.04 ngày 14/12/2023, của Phòng C4 Công an tỉnh Đ lập, xác định: T5 kinh loại nối gác để chân phía sau, bên trái bị gãy rời hoàn toàn khỏi vị trí từ ban đầu; Bộ phận giảm xóc bằng kim loại phía sau bên trái bị gãy, trầy xước, rời khỏi vị trí cố định, kích thước: (0,19 x 0,05)m, điểm cao nhất đo đến mặt đất 0,55m, điểm thấp nhất đo đến mặt đất là 0,38m; Ốp nhựa bảo vệ thân xe bên trái bị trầy xước, kích thước: (0,35 x 0,1)m, điểm cao nhất đo đến mặt đất 0,67m, điểm thấp nhất đo đến mặt đất là 0,57m; Cụm đèn báo hiệu phía sau bị bung rời khỏi vị trí ban đầu, còn nối với đuôi xe bằng sợi dây điện; Dè chắn bùn phía sau bị di lệch theo hướng từ trái qua phải, điểm di lệch so với vị trí lắp đặt là 0,05m; Gác để chân phía trước bên phải bị trầy xước kim loại, kích thước: (0,04 x 0,03)m. Hệ thống lái hư hỏng; hệ thống phanh hư hỏng; cụm đèn báo hiệu phía sau hư hỏng.
Tại Biên bản kết luận giám định kỹ thuật số 02-2024/GĐTN ngày 17/01/2024, của Trung tâm Đ1, kết luận tại thời điểm kiểm tra an toàn kỹ thuật xe ô tô tải biển số 47C-295.71: (I) hiện trạng hư hỏng xe sau tai nạn: Phía trước đầu cabin móp méo; đèn kích trước bên trái vỡ. (II) hệ thống đèn chiếu sáng hoạt động bình thường; hệ thống chuyển động: Lốp 1 mòn đến vạch chỉ nhà sản xuất, lốp 2 chưa mòn đến vạch chỉ nhà sản xuất; hệ thống treo và truyền lực bình thường; hệ thống lái bình thường; hệ thống phanh 1, 2 nằm trong phạm vi cho phép, phanh đỗ nhỏ hơn giá trị cho phép. Kết luận: sau khi xảy ra tai nạn có các hư hỏng nêu ở phần I, II.
Tại Bản kết luận giám định tử thi qua hồ sơ số 05/KLTTHS-PY ngày 15/01/2024, của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận: Nguyên nhân tử vong của ông Lê Quang V là chấn thương ngực kín nặng/Nhiều thương tích do tai nạn giao thông.
3
Tại Bản kết luận giám định pháp y số 314/ KLTTCT-PY ngày 01/4/2024, của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bà Ngô Thị Thu H2 là 81%.
Tại biên bản kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐGTS ngày 26/4/2024, của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện E, kết luận: Những bộ phận hư hỏng của xe mô tô biển số 47D1 – 304.04, trị giá 1.760.000 đồng.
Về dân sự: sau khi tai nạn xảy ra bị cáo và vợ là bà Trương Thị Thanh C đã tự nguyện bồi thường số tiền 127.000.000 đồng cho gia đình bị hại.
Tại bản cáo trạng số 71/KSĐT- HS, ngày 12/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'Leo, truy tố bị cáo Lê Vĩ Đ, về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Kết quả hỏi tại phiên tòa bị cáo Lê Vĩ Đ đã khai nhận hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng.
Tại phiên toà bị cáo và bà Trương Thị Thanh C người đứng tên đăng ký chiếc xe ô tô do bị cáo điều khiển gây tại nạn khai nhận chiếc xe này là tài sản chung của vợ chồng bị cáo chứ không phải là tài sản riêng của vợ Trương Thị Thanh C, nhưng trong quá trình điều tra do không hiểu biết pháp luật và giấy đăng đăng ký xe đứng tên vợ nên khai là tài sản riêng của vợ và hợp đồng lao động được ký giữa bị cáo và vợ bị cáo cũng được làm trong giai đoạn điều tra để phù hợp với lời khai là tài sản riêng chứ thực tế không hề có hợp đồng lao động nào cả.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình bị hại, bị cáo và vợ bị cáo là Trương Thị Thanh C đều trình bày về trách nhiệm dân sự hai bên gia đình đã thoả thuận với nhau trước khi đưa vụ án ra xét xử, cụ thể như sau: Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị Thanh C có trách nhiệm liên đới bồi thường cho gia đình bị hại tổng toàn bộ thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khoẻ, chi phí mai táng, chi phí điều trị, thu nhập bị mất, bị giảm sút, thiệt hại về tinh thần, tổng cộng là 650.000.000đ được trừ số tiền đã bồi thường trước 127.000.000đ, số còn lại phải tiếp tục bồi thường là 523.000.000đ. Thời hạn bồi thường như sau: Ngày 27/7/2024 bồi thường 200.000.000đ, ngày 26/10/2024 bồi thường 73.000.000đ, số còn lại 250.000.000₫ bồi thường dần trong thời hạn 5 năm tính từ ngày 27/10/2024. Đại diện gia đình bị hại và bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều đề nghị HĐXX ghi nhận sự thoả thuận nêu trên.
Kết quả tranh luận tại phiên tòa hôm nay, sau khi phân tích các chứng cứ buộc tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố bị cáo Lê Vĩ Đ, phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Vĩ Đ từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm.
Về vật chứng: Áp dụng Áp dụng Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện E trả lại xe mô tô biển số 47D1 – 304.04 cho ông Lê Quang Q (là người đại diện ủy quyền của gia đình bị hại). Trả 01 xe ô tô tải biển số 47C-295.71; 01 giấy đăng
4
ký, 01 giấy kiểm định, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự cho bà Trương Thị Thanh C.
Đề nghị HĐXX trả giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 24/01/2022 cho Lê Vĩ Đ.
Trách nhiệm dân sự: Đề nghị HĐXX ghi nhận sự thoả thuận giữa gia đình bị hại với bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận.
Đại diện gia đình bị hại không có ý kiến gì tranh luận, mà chỉ đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho phía gia đình bị hại, đồng ý với tội danh, các tình tiết giảm nhẹ, mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo và đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp nhất và cho bị cáo hưởng án treo. Về trách nhiệm dân sự đề nghị HĐXX ghi nhận sự thoả thuận giữa gia đình bị hại với gia đình bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo hiện có hoàn cảnh khó khăn, hai vợ chồng mới ra riêng chưa có nhà đang phải ở nhà thuê, con còn nhỏ, xin HĐXX cho bị cáo hưởng án treo để bị cáo có điều kiện lao động nuôi con và kiếm tiền bồi thường cho gia đình bị hại.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện E, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'leo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên Tòa bị cáo khai nhận: Bị cáo là người đã có giấy phép lái xe ô tô hạng C. Vào khoảng 19 giờ ngày 14/12/2023, bị cáo điều khiển xe ô tô tải biển số 47C-295.71 (là tài sản chung của vợ chồng bị cáo) lưu thông trên đường H theo hướng từ Đắk Lắk đi Gia Lai, khi đến Km1678+200m thuộc thôn C, xã E, huyện E, thì phát hiện phía trước cùng chiều có người điều khiển xe mô tô đột ngột chuyển hướng từ làn đường bên phải sang làn đường bên trái nhưng không có tín hiệu báo trước và do khoảng cách quá gần nên bị cáo đánh lái sang làn bên trái để tránh nhưng không tránh được nên xảy ra va chạm với xe mô tô này. Hậu quả, người điều khiển xe mô tô ông Lê Quang V tử vong trong quá trình điều trị tại bệnh viện và người ngồi sau xe bà Ngô Thị Thu H2 bị thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể 81% tại thời điểm giám định.
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm xe và các tài liệu chứng cứ khác được
5
cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Hành vi của bị cáo Lê Vĩ Đ đã vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ năm 2008.
Tại khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ năm 2008, quy định: “Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ”.
Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận: Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội.
Điều 260 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
- Làm chết người.
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên”.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm quy định về an toàn giao thông khi tham gia giao thông đường bộ gây hậu quả chết 01 người và làm 01 người bị thương tích tỷ lệ 81%, gây ảnh hưởng đến trật tự, an toàn giao thông, mặc dù tại nạn xảy ra là do lỗi vô ý nhưng cần buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội và có hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi của bị cáo gây ra, nhằm phát huy tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[3] Tuy nhiên, xét thấy: Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã cùng vợ tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại 127.000.000 đồng và đã tự thoả thuận bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại; tại phiên toà được đại diện gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo hưởng án treo; hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn. Mặt khác qua các tài liệu chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án cho thấy việc xảy ra tai nạn cũng có phần lỗi của người bị hại đó là khi chuyển làn để qua đường thiếu quan sát và không bật tín hiệu, chuyển làn đường khi khoảng cách với xe đi phía sau quá gần, việc bị cáo đi sai làn đường không phải là chủ đích mà khi phát hiện phía trước có xe mô tô sang đường và khoảng cách quá gần nên bị cáo đánh lái sang trái, mục đích để tránh nhưng không tránh được mà vẫn xảy ra va chạm. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần áp dụng để giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo. Do được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ và lỗi để xảy ra tai nạn là do vô ý, bị hại cũng có có phần lỗi đồng thời bị cáo có nhân thân tốt có nơi cư trú ổn định rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly để cải tạo mà cho bị cáo hưởng án treo dưới sự giám sát của gia đình và chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng răn đe đối với bị cáo.
Xét mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, thì giữa bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị Thanh C và người đại
6
diện của gia đình bị hại anh Lê Quang Q đã tự thoả thuận với nhau về phần trách nhiệm dân sự, theo đó bị cáo và vợ là Trương Thị Thanh C có trách nhiệm liên đới bồi thường cho gia đình bị hại tổng toàn bộ thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khoẻ, chi phí mai táng, chi phí điều trị, thu nhập bị mất, bị giảm sút, thiệt hại về tinh thần tổng cộng là 650.000.000₫ được trừ số tiền đã bồi thường trước 127.000.000đ, số còn lại phải tiếp tục bồi thường là 523.000.000đ. Thời hạn bồi thường như sau: Ngày 27/7/2024 bồi thường 200.000.000đ, ngày 26/10/2024 bồi thường 73.000.000đ, số còn lại 250.000.000đ bồi thường dần trong thời hạn 5 năm tính từ ngày 27/10/2024.
Tại phiên toà hôm nay bị cáo, đại diện bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều nghị HĐXX ghi nhận sự thoả thuận nêu trên. Xét thấy sự thoả thuận này là tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên cần ghi nhận.
[5] Về xử lý vật chứng: Xét thấy việc cơ quan điều tra trả lại xe mô tô biển số 47D1 – 304.04, cho ông Lê Quang Q (người đại diện uỷ quyền của gia đình bị hại). Trả 01 xe ô tô tải biển số 47C-295.71; 01 giấy đăng ký, 01 giấy kiểm định, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự cho bà Trương Thị Thanh C là đúng pháp luật nên chấp nhận.
Trả giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 24/01/2022 cho Lê Vĩ Đ.
[6] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST. Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không phải chịu án phí DSST do tự thoả thuận trước khi mở phiên toà và yêu cầu HĐXX ghi nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Lê Vĩ Đ, phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Xử phạt: Bị cáo Lê Vĩ Đ 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho UBND xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách; gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
* Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584; 585; 589; 590; 591 và 601 Bộ luật dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận giữa đại diện theo uỷ quyền của gia đình bị hại với bị cáo và người có quyền, nghĩa vụ liên quan, như sau:
Bị cáo Lê Vĩ Đ và vợ là Trương Thị Thanh C có trách nhiệm liên đới bồi thường cho gia đình bị hại tổng toàn bộ thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khoẻ,
7
chi phí mai táng, chi phí điều trị, thu nhập bị mất bị giảm sút, thiệt hại về tinh thần, tổng cộng là: 650.000.000₫ (sáu trăm năm mươi triệu đồng) được trừ số tiền đã bồi thường trước 127.000.000đ (một trăm hai mươi bảy triệu đồng). Số còn lại phải tiếp tục bồi thường là 523.000.000đ (năm trăm hai mươi ba triệu đồng). Thời hạn bồi thường: Ngày 27/7/2024 bồi thường 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng), ngày 26/10/2024 bồi thường 73.000.000đ (bảy mươi ba triệu đồng), số còn lại 250.000.000đ (hai trăm năm mươi triệu đồng) bồi thường dần trong thời hạn 5 năm tính từ ngày 27/10/2024.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận việc cơ quan điều tra trả lại xe mô tô biển số 47D1 – 304.04 cho ông Lê Quang Q (là người đại diện ủy quyền của gia đình bị hại). Trả 01 xe ô tô tải biển số 47C-295.71; 01 giấy đăng ký, 01 giấy kiểm định, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự cho bà Trương Thị Thanh C.
Trả giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 24/01/2022 cho Lê Vĩ Đ (Tòa án đã trả).
Về án phí: Bị cáo Lê Vĩ Đ phải nộp 200.000 đồng án phí HSST. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; bị hại không phải chịu án phí DSST.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
*Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại; đại diện theo pháp luật của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Long |
8
Bản án số 74/2024/HSST ngày 16/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO, TỈNH ĐẮK LẮK về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 74/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Vĩ Đ vi phạm tội "vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo khoản 1 Điều 260 BLHS
