TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 74/2024/HS-ST
Ngày: 15-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Phong Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Thế Ứng;
- Ông Dương Thanh Phương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Vinh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Tiểu My - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Văn P (tên gọi khác: Không), sinh ngày 19 tháng 12 năm 2001, tại tỉnh Tiền Giang;
- Nơi cư trú: Số G Đ, Khu phố A, Phường E, thị xã C, tỉnh Tiền Giang;
- Nghề nghiệp: Làm thuê;
- Trình độ văn hoá (học vấn): 08/12;
- Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
- Con ông Lê Văn B và bà Trần Thị Thúy H;
- Bị cáo vợ và 01 con;
- Tiền án: Không có;
- Tiền sự: Ngày 13/8/2023, bị Ủy ban nhân dân Phường E, thị xã C, tỉnh Tiền Giang xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đã đóng phạt ngày 16/8/2023.
- Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/3/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thị xã C, tỉnh Tiền Giang;
- Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Nguyễn Minh T, sinh ngày 29/01/2005;
Địa chỉ: Ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang;
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1980;
Địa chỉ: Ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2019, thông qua mạng xã hội Facebook, Lê Văn P, sinh năm 2001, nơi thường trú: số G Đ, Khu phố A, Phường E, thị xã C, tỉnh Tiền Giang quen biết với Nguyễn Minh T, sinh ngày 29/01/2005, nơi thường trú: ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
Trong quá trình nhắn tin qua lại, P và T phát sinh tình cảm nam nữ với nhau. P nhiều lần đưa T về nhà P ở Khu phố A, Phường E, thị xã C, tỉnh Tiền Giang, tại đây cả hai tự nguyện giao cấu trên gác nhà của P. Đến tháng 11/2019, T phát hiện có thai nên gia đình hai bên cho P và T sống với nhau như vợ chồng. Tại thời điểm này, Nguyễn Minh T được 14 tuổi 10 tháng 01 ngày, Lê Văn P được 17 tuổi 11 tháng 11 ngày.
Ngày 18/7/2020, Nguyễn Minh T sinh con tại Bệnh viện Đ đặt tên là Nguyễn Ngọc Khánh V. Sau khi Thư sinh con được khoảng 04 tháng tức là khoảng tháng 11/2020, P và T tiếp tục giao cấu nhiều lần với nhau tại nhà của T ở ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang và nhà của P ở số G Đ, Khu phố A, Phường E, thị xã C, tỉnh Tiền Giang. Tại thời điểm này, Nguyễn Minh T được 15 tuổi 10 tháng 01 ngày, Lê Văn P được 18 tuổi 11 tháng 11 ngày.
Do thời điểm sinh con, T chưa đủ tuổi đăng ký kết hôn nên T và P không đi đăng ký kết hôn và không đăng ký khai sinh cho con được. Đến ngày 02/3/2023, khi T đã đủ 18 tuổi thì cả hai đến Ủy ban nhân dân phường E, thị xã C, tỉnh Tiền Giang để đăng ký kết hôn.
Ngày 16/11/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy làm việc với P về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy thì phát hiện tại thời điểm mang thai T chưa đủ 16 tuổi nên chuyển tin báo cho Đội điều tra tổng hợp xác minh, xử lý theo quy định.
- Vật chứng thu giữ: Không.
* Kết luận giám định số 1402/KL-KTHS ngày 14/3/2024 của Phân viện KHHS tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
- Lê Văn P và Nguyễn Ngọc K Vy có quan hệ huyết thống cha - con.
- Nguyễn Minh T và Nguyễn Ngọc Khánh V có quan hệ huyết thống mẹ - con.
* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Minh T và người đại diện hợp pháp là bà Nguyễn Thị T1 không yêu cầu về trách nhiệm dân sự.
* Cáo trạng số 65/CT-VKSTXCL ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Lê Văn P để xét xử về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
* Tại phiên tòa:
- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo đúng như Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang đã truy tố và không có ý kiến gì khác.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang giữ quyền công tố, trình bày tranh luận và luận tội:
- Giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Lê Văn P;
- Đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Tuyên bố bị cáo Lê Văn P phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
- Áp dụng Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 2 Điều 145; Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Văn P từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù;
- + Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Minh T và người đại diện hợp pháp là bà Nguyễn Thị T1 không yêu cầu về trách nhiệm dân sự nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Ý kiến tranh luận của bị cáo: Không có ý kiến đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
- Bị hại Nguyễn Minh T và người đại diện hợp pháp là bà Nguyễn Thị T1 trình bày: Không có yêu cầu gì khác gì về trách nhiệm dân sự và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã ăn năn, hối hận về hành vi của mình. Xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm về đoàn tụ với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử:
- Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên - Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thị xã C, tỉnh Tiền Giang; Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan Cảnh sát Điều tra và Viện kiểm sát thu thập là hợp pháp.
- Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Như vậy, hành vi và quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay cho thấy:
Trong khoảng thời gian từ tháng 11/2020 đến tháng 01/2021, Lê Văn P là người đủ 18 tuổi đã nhiều lần có hành vi giao cấu với Nguyễn Minh T là người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Tại thời điểm thực hiện hành vi giao cấu bị hại Nguyễn Minh T chỉ mới 15 tuổi 10 tháng 01 ngày) tại số G Đ, Khu phố A, Phường E, thị xã C, tỉnh Tiền Giang và ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
[2.2] Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp lời khai của bị hại, những người liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Lê Văn P phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang đã truy tố bị cáo Lê Văn P với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người đã thành niên có đủ nhận thức về hành vi giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Mặc dù giữa bị cáo và bị hại có mối quan hệ tình cảm, nhưng tính đến ngày bị xâm phạm tình dục thì bị hại chưa đủ 16 tuổi, ở độ tuổi này nhận thức pháp luật của bị hại có phần còn hạn chế, chưa nhận thức được đầy đủ các vấn đề về giới tính và xã hội. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến sự phát triển bình thường về thể chất và sinh lý của trẻ em trong độ tuổi từ 13 đến dưới 16 tuổi và tạo dư luận xấu tại địa phương. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra.
[2.4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Văn P đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Ngoài ra, phía bị hại cùng với người đại diện theo pháp luật của bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[2.5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[2.6] Về nhân thân của các bị cáo: Bị cáo không có tiền án nhưng có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 13/8/2023 nên bị Ủy ban nhân dân Phường E, thị xã C, tỉnh Tiền Giang xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng. Đã đóng phạt ngày 16/8/2023.
[2.7] Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội sau này.
[3] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Nguyễn Minh T và người đại diện hợp pháp là bà Nguyễn Thị T1 không yêu cầu về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[4] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.
[5] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[6] Bị cáo, bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điều 32, 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- - Điều 106, 135, 136, 290, 299, 326, 327, 331, 333 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn P phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
Xử phạt bị cáo Lê Văn P 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 25 tháng 3 năm 2024.
- Về án phí: Bị cáo Lê Văn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm với số tiền là 200.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo:
- Bị cáo Lê Văn P, bị hại Nguyễn Phạm Kiều M và người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Phong Hiếu |
Bản án số 74/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG về hình sự sơ thẩm về tội giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
- Số bản án: 74/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Văn P phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”
