Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ AN NHƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

Bản án số: 74/2024/DS-ST

Ngày: 14 - 6 - 2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ái Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Minh Chiến;
  2. Ông Hồ Xuân Dũng.

Thư ký phiên tòa: Ông Mang Đức Kham - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Lệ - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 133/2023/TLST-DS ngày 26 tháng 10 năm 2023, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 950/2024/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1082/2024/QĐST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2024; giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thu H, sinh năm: 1964 (vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Số D T, phường B, thị xã A, tỉnh Bình Định.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Định K, sinh năm 1997 (có mặt)

    Địa chỉ: Số F N, phường Q, thành phố Q, tỉnh Bình Định.

    Văn bản ủy quyền được công chứng ngày 10/11/2023.

  3. Bị đơn:
  4. Nguyễn Thị P, sinh năm: 1972 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt);

    Ông Nguyễn Thành V, sinh năm: 1968 (vắng mặt)

    Cùng địa chỉ: Số B Đ, phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định.

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  6. Ông Trần Văn D, sinh năm: 1963 (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt)

    Địa chỉ: Số D T, phường B, thị xã A, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai tại hồ sơ và tại phiên tòa, anh Trần Định K là người đại diện theo ủy quyền nguyên đơn trình bày:

Trong năm 2022, bà Trần Thị Thu H cho vợ chồng bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Thành V tổng cộng 03 lần, cụ thể:

- Ngày 17/9/2022 âm lịch (tức ngày 12/10/2022 dương lịch), bà H cho vay số tiền 150.000.000 đồng. Các bên thỏa thuận thời hạn vay từ ngày 17/9/2022 âm lịch đến ngày 17/10/2022 âm lịch (tức ngày 10/11/2022 dương lịch). Trong Giấy mượn tiền không thỏa thuận về việc tính lãi nhưng các bên có thỏa thuận bằng lời nói về việc trả lãi.

- Ngày 18/12/2022 âm lịch (tức ngày 09/01/2023 dương lịch), bà H cho vay số tiền 100.000.000 đồng. Các bên không thỏa thuận về lãi suất và thời gian vay.

- Ngày 25/12/2022 âm lịch (tức ngày 16/01/2023 dương lịch), bà H cho vay 80.000.000 đồng. Các bên không thỏa thuận lãi suất và thời gian vay.

H yêu cầu vợ chồng bà P, ông V phải trả tổng số tiền vay gốc còn nợ là 330.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi của các hợp đồng vay theo quy định của pháp luật, với mức lãi suất 10%/năm. Thời điểm tính lãi từ ngày 30 tháng 10 năm 2023 dương lịch cho đến khi bà P, ông V trả xong toàn bộ số nợ.

Bị đơn bà Nguyễn Thị P trình bày:

Bà là vợ của ông Nguyễn Thành V. Bà đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án và đã giao lại cho ông V. Ông V biết Tòa án đang giải quyết vụ án nhưng hiện nay ông V đang bị bệnh nên không thể tham gia tố tụng.

Trong năm 2022, vợ chồng bà có vay tiền của bà Trần Thị Thu H tổng cộng 03 lần, cụ thể:

- Ngày 17/9/2022 âm lịch (tức ngày 12/10/2022 dương lịch), bà H cho vay số tiền 150.000.000 đồng. Các bên thỏa thuận thời hạn vay từ ngày 17/9/2022 âm lịch đến ngày 17/10/2022 âm lịch (tức ngày 10/11/2022 dương lịch). Trong Giấy mượn tiền không thỏa thuận về việc tính lãi nhưng các bên có thỏa thuận bằng lời nói về việc trả lãi.

- Ngày 18/12/2022 âm lịch (tức ngày 09/01/2023 dương lịch), bà H cho vay số tiền 100.000.000 đồng. Các bên không thỏa thuận về lãi suất và thời gian vay.

- Ngày 25/12/2022 âm lịch (tức ngày 16/01/2023 dương lịch), bà H cho vay 80.000.000 đồng. Các bên không thỏa thuận lãi suất và thời gian vay.

Sau khi vay, bà đã trả tiền lãi theo thỏa thuận tại các hợp đồng vay. Đến tháng 10 năm 2023 bà không trả lãi cho bà H nữa. Bà xác định số tiền đã trả từ khi vay đến trước tháng 10 năm 2023 là tiền trả lãi, không tranh chấp số tiền đã trả cho bà H, không yêu cầu Tòa án tính lại tiền lãi mà bà đã trả.

H yêu cầu vợ chồng bà phải trả tổng số tiền vay gốc còn nợ là 330.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật. Thời điểm tính lãi của các hợp đồng vay từ ngày 30 tháng 10 năm 2023 dương lịch cho đến khi trả xong toàn bộ số nợ thì bà đồng ý.

Bị đơn ông Nguyễn Thành V vắng mặt nên không có lời trình bày.

Theo các lời khai tại hồ sơ, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn D trình bày:

Ông là chồng của bà Trần Thị Thu H. Bà H cho vợ chồng bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Thành V vay tiền thì ông không biết nhưng số tiền bà H cho vay là tài sản chung của vợ chồng ông. Ông thống nhất toàn bộ lời trình bày và yêu cầu của nguyên đơn, ngoài ra ông không bổ sung gì thêm.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Thẩm phán vi phạm thời gian chuẩn bị xét xử.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc vợ chồng bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Thành V có trách nhiệm trả cho vợ chồng bà Trần Thị Thu H, ông Trần Văn D số tiền vay gốc 330.000.000đồng và tiền lãi tính từ ngày 30/10/2023 cho đến ngày xét xử. Buộc bà Trần Thị Thu H trả cho vợ chồng bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Thành V Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01129/QSDĐ/I4 ngày 03/8/1998 của UBND huyện (nay là thị xã) An Nhơn đứng tên Nguyễn Thành V. Buộc vợ chồng bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Thành V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bà Trần Thị Thu H khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Thành V có địa chỉ tại số B Đ, phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Định. Theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.

[2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn D vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Thành V đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và các khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông D và ông V.

[3] Ông V đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không trình bày ý kiến, không giao nộp tài liệu, chứng cứ, không thực hiện quyền, nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 96 và Điều 97 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do các đương sự khác giao nộp và tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập được để giải quyết vụ án.

[4] Dựa trên sự thừa nhận của các đương sự, căn cứ khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định giữa bà Trần Thị Thu H và bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Thành V đã giao kết các hợp đồng vay tài sản ngày 17/9/2022 âm lịch (tức ngày 12/10/2022 dương lịch); ngày 18/12/2022 âm lịch (tức ngày 09/01/2023 dương lịch) và ngày 25/12/2022 âm lịch (tức ngày 16/01/2023 dương lịch) với tổng số tiền 330.000.000 đồng.

[5] Theo nội dung Giấy mượn tiền ngày 17/9/2022, các bên thừa nhận số tiền vay gốc là 150.000.000 đồng, thời hạn vay từ ngày 17/9/2022 âm lịch đến ngày 17/10/2022 âm lịch, các bên có thỏa thuận bằng lời nói về việc trả lãi nhưng không xác định rõ lãi suất. Theo quy định tại khoản 2 Điều 468 và khoản 2 Điều 470 của Bộ luật Dân sự, Giấy mượn tiền ngày 17/9/2022 là hợp đồng vay có kỳ hạn với mức lãi suất 10%/năm. Theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 5 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì bà H có quyền yêu cầu bà P, ông V phải trả tiền lãi trên nợ gốc bị quá hạn từ sau ngày 17/10/2022 âm lịch với mức lãi suất 15%/năm. Tuy nhiên tại phiên hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn chỉ yêu cầu tính lãi từ ngày 30/10/2023 với mức lãi suất 10%/năm. Do đó, theo quy định tại Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn và xác định bà P, ông V phải trả tiền lãi của khoản vay 150.000.000 đồng từ ngày 30/10/2023 với mức lãi suất 10%/năm.

[6] Theo nội dung Giấy mượn tiền ngày 18/12/2022, các bên thỏa thuận số tiền vay gốc là 100.000.000 đồng. Theo nội dung Giấy mượn tiền ngày 25/12/2022, các bên thỏa thuận số tiền vay gốc là 80.000.000 đồng. Các bên không thỏa thuận về lãi suất và thời gian vay. Theo quy định tại khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Dân sự, Giấy mượn tiền ngày 18/12/2022 và Giấy mượn tiền ngày 25/12/2022 là các hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi. Bà H yêu cầu bà P, ông V phải trả tiền lãi với mức lãi suất là 10%/năm trên số tiền vay gốc chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả là phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 466 của Bộ luật Dân sự. Tại phiên hòa giải, các bên thống nhất xác định thời điểm tính lãi chậm trả là ngày 30/10/2023 với mức lãi suất 10%/năm là phù hợp với quy định tại Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[7] Từ ngày 30/10/2023 đến ngày xét xử (ngày 14/6/2024) là 228 ngày. Tổng số tiền lãi của các hợp đồng vay là: đồng. Tổng tiền vay gốc và tiền lãi tính đến ngày xét xử là 350.613.699 đồng.

[8] Khi vay tiền, vợ chồng bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Thành V có giao cho bà Trần Thị Thu H Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01129/QSDĐ/I4 ngày 03/8/1998 của UBND huyện (nay là thị xã) An Nhơn đứng tên Nguyễn Thành V nhưng không đăng ký biện pháp bảo đảm theo Điều 298 của Bộ luật Dân sự nên xác định Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là tài sản bảo đảm, buộc bà Trần Thị Thu H phải trả cho vợ chồng bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Thành V.

[9] Theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bà P và ông V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do toàn bộ yêu cầu của bà H được Tòa án chấp nhận. Mức án phí được tính: 5% x 350.613.699 đồng 17.530.685 đồng.

[10] Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 70, Điều 72, khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 96, Điều 97, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 298, Điều 463, khoản 1, 4 Điều 466, khoản 2 Điều 468, khoản 1 Điều 469 và khoản 2 Điều 470, Điều 500, Điều 503 của Bộ luật Dân sự;

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

- Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Thu H.
  2. Buộc bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Thành V phải trả cho vợ chồng bà Trần Thị Thu H và ông Trần Văn D tổng số tiền 350.613.699 đồng (Ba trăm năm mươi triệu, sáu trăm mười ba nghìn, sáu trăm chín mươi chín đồng), trong đó 330.000.000 đồng tiền vay gốc và 20.613.699 đồng tiền lãi.
  3. Kể từ sau ngày xét xử (ngày 14/6/2024), nếu bà Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Thành V không trả hoặc trả không đầy đủ tiền vay gốc thì phải trả tiền lãi trên nợ gốc chậm trả với mức lãi suất 10%/năm tương ứng với thời gian chậm trả.
  4. Buộc bà Trần Thị Thu H trả cho bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Thành V Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01129/QSDĐ/I4 ngày 03/8/1998 của UBND huyện (nay là thị xã) An Nhơn đứng tên Nguyễn Thành V.
  5. Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị P và ông Nguyễn Thành V phải chịu 17.530.685 đồng (Mười bảy triệu năm trăm ba mươi nghìn sáu trăm tám mươi lăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà Trần Thị Thu H 8.250.000 đồng (Tám triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002006 ngày 26 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã An Nhơn.
  6. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND thị xã An Nhơn;
  • - CC THADS thị xã An Nhơn;
  • - Phòng KTNV và THA TAND tỉnh Bình Định;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Ái Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2024/DS-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 74/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa Trần Thị Thu H và Nguyễn Thị P
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger