TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 74/2024/HS-ST Ngày 14-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Thanh Hiên
Bà Hà Thị Nga
Thư ký phiên toà: Bà Lương Thị Thu Hà - Thư ký Toà án nhân dân quận
Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà
Trần Thị Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 67/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 344/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Việt T, sinh năm 1990 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh P và bà Hoàng Thị D; có vợ là Nguyễn Thị Thu T1; có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 31/12/2023 đến ngày 09/01/2024 thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
Bị hại: Chị Lê Phương N, sinh năm 1993; địa chỉ: Số E P, phường Đ, quận H, Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 30/12/2023 Nguyễn Việt T cùng vợ Nguyễn Thị Thu T1 và hai con đi xe ô tô đến Trung tâm thương mại A, Hải Phòng để mua sắm. T đưa hai con lên khu V trên tầng 03, rồi cùng vợ xuống tầng 02 tham quan. Sau đó, vợ T đi đặt bàn ăn còn T đi lên khu vui chơi trên tầng 03 để trông hai con. Tại đây, T quan sát thấy ở khu cầu trượt có để 01 chiếc túi xách màu nâu của chị Lê Phương N (sinh năm 1993, trú tại: số E P, Đ, H, Hải Phòng) không có ai trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản trong túi. T đi lại gần chiếc túi, dùng tay mở khóa túi, thò tay vào bên trong lấy 24.000.000 đồng (hai mươi bốn triệu đồng) đút vào túi quần mình đang mặc. T chơi cùng con một lúc rồi dẫn con xuống tầng 02 nơi vợ đang ngồi còn mình đi xuống bãi đỗ xe ô tô, cất giấu số tiền vừa trộm cắp được vào túi quần dài màu xám để trong cốp xe. T đi lên tầng 02 ăn cùng gia đình. Đến khoảng 20 giờ, T ra quầy thanh toán thì thấy chị N đến hỏi T về việc trộm cắp số tiền 24 triệu đồng trong túi xách của chị. T thừa nhận hành vi của mình và cùng chị N về phòng an ninh của Trung tâm thương mại làm việc, chị N trình báo sự việc đến Công an phường K. Ngay sau đó lực lượng Công an đã đến Trung tâm thương mại đưa T về trụ sở làm việc, thu giữ số tiền 24.000.000 đồng, 01 USB lưu trữ đoạn video ghi lại hình ảnh vụ việc.
Ngày 31/12/2023 Nguyễn Việt T giao nộp Cơ quan Công an 01 bộ quần áo thể thao màu đen, là trang phục T mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp và 01 quần dài màu xám dùng để cất giấu số tiền trộm cắp để trong cốp xe ô tô; chị Lê Phương N giao nộp 01 túi xách màu nâu là chiếc túi T đã thò tay vào để lấy tiền.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Việt T khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên, thừa nhận người nam giới trong camera do Cơ quan Công an thu giữ là T đang thực hiện hành vi trộm cắp. Việc trộm cắp được tiền và mang đi cất giấu T không nói cho vợ biết.
Chị Lê Phương N khai: Khoảng 17 giờ ngày 30/12/2023 chị dẫn con đến khu V, chị để túi xách màu nâu đựng 24.000.000 ở khu cầu trượt để trông con, sau khoảng 30 phút chị quay lại chỗ để túi thì phát hiện bị mất toàn bộ số tiền trên. Chị N nhờ lực lượng an ninh của Trung tâm thương mại kiểm tra qua camera thì thấy khoảng 18 giờ cùng ngày Nguyễn Việt T đến mở túi xách của chị lấy tiền bên trong rồi bỏ đi. Sau đó, chị N phát hiện T đang ngồi ăn tại tầng 02 nên đã đến hỏi thì T thừa nhận hành vi của mình.
Chị Nguyễn Thị Thu T1 (là vợ của T) có lời khai phù hợp với lời khai của Nguyễn Việt T. Khi T thực hiện hành vi trộm cắp chị đang ngồi ở tầng 02 và sau khi T trộm cắp được tiền rồi mang ra xe ô tô cất giấu, T không nói nên chị T1 không biết.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Lê Phương N đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường.
Bản Cáo trạng số 82/CT-VKSLC ngày 04/4/2024, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố bị cáo Nguyễn Việt T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Việt T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Việt T và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Việt T 9 đến 12 tháng Cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”; không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ 01 bộ quần áo thể thao màu đen và 01 quần dài màu xám.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện là đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, biên bản bắt người phạm tội quả tang, báo cáo bắt giữ của lực lượng công an, kết luận giám định, vật chứng thu giữ, tài liệu khác có trong hồ sơ đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ ngày 30/12/2023, bị cáo Nguyễn Việt T đã có hành vi lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, lén lút chiếm đoạt số tiền 24.000.000 đ (hai mươi bốn triệu đồng) trong túi xách của chị Lê Phương N tại tầng 3 Trung tâm thương mại A, Hải Phòng. Hành vi của bị cáo đã thỏa mãn cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đối với bị cáo Nguyễn Việt T về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trị an xã hội nên cần xét xử nghiêm.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; gia đình bị cáo có công với Cách mạng (mẹ bị cáo thờ cúng liệt sĩ) nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích ở trên, vì vậy không cần thiết phải bắt cách ly bị cáo khỏi xã hội mà có thể áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội như đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự thì bị cáo có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền, theo quy định tại Điều 36 Bộ luật hình sự thì bị cáo có thể bị khấu trừ thu nhập. Xét bị cáo không có công việc thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và không áp dụng khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự:
[8] Bị hại là chị Lê Phương N đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xét.
- Về xử lý vật chứng:
[9] Đối với 01 bộ quần áo thể thao màu đen và 01 quần dài màu xám xét không còn giá trị sử dụng nên căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu huỷ.
- Về các vấn đề khác:
[10] Cần hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Về án phí:
[11] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo:
[12] Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Việt T 9 (chín) tháng Cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an quận Đ, thành phố Hải Phòng nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Nguyễn Việt T cho Ủy ban nhân dân phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng giám sát và giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó. Trong trường hợp người đang chấp hành án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự.
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng dân sự:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 bộ quần áo thể thao màu đen và 01 quần dài màu xám.
(Theo biên bản giao, nhận tài sản vật chứng ngày 04/4/2024 giữa Công an quận L và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Hà |
Bản án số 74/2024/HS-ST ngày 14/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 74/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
