|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH Bản án số: 47/2024/HNGĐ-ST Ngày 28-5-2024 V/v Tranh chấp hôn nhân gia đình |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Thành.
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Vũ Thị Nga.
- Bà Nguyễn Thị Thêu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Hải Bằng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 153/2023/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Anh Nguyễn Duy H, sinh năm 1981
Đăng ký HKTT: Tổ dân phố H, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình
Địa chỉ hiện nay: Số nhà H, tổ A, thị trấn L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng
* Bị đơn: Chị Bùi Thị H1, sinh năm 1980
Đăng ký HKTT: Tổ dân phố H, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình
Địa chỉ hiện nay: Số nhà A, tầng C, đường T, thành phố Đ, Đài Loan
(Anh Hchị H1 có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại Đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 13/12/2023, Bản tự khai đề ngày 02/3/2024, ngày 20/5/2024; Nguyên đơn - anh Nguyễn Duy H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Avà chị Bùi Thị H2 hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ú, tỉnh Thái Nguyênngày 21/02/2014. Sau khi kết hôn, tháng 7/2020 chị H1đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan đến nay chưa về Việt Nam. Khi chị H1đi nước ngoài thỉnh thoảng có gọi điện thoại về nhưng vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung, không quan tâm đến cuộc sống của nhau và sống ly thân từ tháng 7 năm 2020 đến nay. Nay anh thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Bùi Thị H1
- Về quan hệ con chung: Vợ chồng anh có 01 con chung là Nguyễn Duy P ngày 30/9/2013, hiện nay con chung đang ở với bố mẹ chị H3 hôn anh và chị H1thỏa thuận giao con chung là Nguyễn Duy P1 chị H1chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con anh và chị H1tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng anh không có tài sản chung, không có nợ chung, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai đề ngày 20/3/2024; Bị đơn - chị Bùi Thị H1 trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian, điều kiện kết hôn cũng như thời gian, nguyên nhân mâu thuẫn chị H1 khai phù hợp với lời khai như của anh H đã trình bày. Nay anh H xin ly hôn chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đồng ý ly hôn.
- Về quan hệ con chung: Chị và anh Nguyễn Duy H có 01 con chung là cháu Nguyễn Duy P2, sinh ngày 30/9/2013, hiện nay con Pđang ở với bố mẹ chị. Ly hôn chị và anh H4 thuận giao con chung cho chị trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, về cấp dưỡng nuôi con chị và anh H5 thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do hiện nay chị đang đi lao động tại Đài Loan không thể trực tiếp nuôi con được, chị ủy quyền cho mẹ đẻ chị là bà Lê Thị B năm 1950; địa chỉ tổ dân phố H, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bìnhnuôi con giúp chị trong thời gian chị đi lao động ở nước ngoài. Việc cấp dưỡng nuôi con chị và bà B1 thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về quan hệ tài sản: Chị và anh H không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại đơn trình bày đề ngày 02/4/2024; bà Lê Thị B2, sinh năm 1950; Địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình trình bày:
Bà là mẹ đẻ của chị Bùi Thị H6 nay, chị H1đang đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Vợ chồng anh H7 H1có 01 con chung là cháu Nguyễn Duy P ngày 30/9/2013, hiện nay cháu P3 ở với bà. Ly hôn anh H8 chị H1thỏa thuận giao con chung là cháu P1 chị H1trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nhưng do chị H1đang ở nước ngoài chưa về Việt Nam để trực tiếp nuôi con được nên chị H1đã ủy quyền cho bà nuôi cháu P4 đồng ý nhận ủy quyền nuôi cháu P5 chị H1trong thời gian chị Hllao động ở nước ngoài. Về cấp dưỡng nuôi con giữa bà và chị H1hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình kết luận quá trình thực hiện tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, đương sự đảm bảo đúng pháp luật và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Duy H được ly hôn chị Bùi Thị H9 quan hệ con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Duy P2, sinh ngày 30/9/2013 cho chị Bùi Thị H1 trực tiếp nuôi dưỡng, về cấp dưỡng nuôi con không đặt ra giải quyết. Chấp nhận sự tự nguyện của bà Lê Thị B3 dưỡng, chăm sóc cháu Nguyễn Duy P6 thời gian chị H1ở nước ngoài. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra giải quyết. Về án phí: Anh Nguyễn Duy H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
* Về tố tụng: Bị đơn chị Bùi Thị H1 ở nước ngoài (Đài Loan), căn cứ vào khoản 3 Điều 35, Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình. Anh H, chị H1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hợp lệ, áp dụng khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh H, chị H1.
* Về nội dung:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa anh Nguyễn Duy H và chị Bùi Thị H1 được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 21/02/2014 tại Ủy ban nhân dân xã Ú, tỉnh Thái Nguyênđược xác định là hôn nhân hợp pháp kể từ thời điểm đăng ký kết hôn. Lời khai của anh H và chị H1 đều thể hiện mâu thuẫn giữa anh H và chị H1 là có thật, đã kéo dài nhiều năm, tình cảm vợ chồng không còn, anh H xin ly hôn, chị H1 đồng ý. Xét thấy cuộc sống hôn nhân giữa anh H và chị H1 không có hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho anh H và chị H1ly hôn là phù hợp.
[2] Về con chung: Anh H và chị H1có 01 con chung là cháu Nguyễn Duy P2, sinh ngày 30/9/2013, hiện nay cháu P3 ở cùng bố mẹ chị H1cháu Pđược ông bà chăm sóc rất tốt. Ly hôn, anh H8 chị H1thỏa thuận giao con chung cho chị H1trực tiếp nuôi dưỡng, cháu P7 đơn xin ở với mẹ. Do chị H1đang ở nước ngoài nên không trực tiếp nuôi con được, chị Hlủy quyền cho bà Lê Thị B2(mẹ chị H1chăm sóc, nuôi dưỡng cháu P8 khi chị H1về Việt Nam, bà B4 trí nên cần chấp nhận. Vì vậy, áp dụng Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao con chung cho chị H1trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Duy P9 anh H7 H1 và bà B tự thỏa thuận nên Tòa án không đặt ra giải quyết.
[3] Về tài sản chung và nợ chung: Anh Nguyễn Duy H và chị Bùi Thị H1 không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy không đặt ra giải quyết.
[4] Về án phí: Anh Nguyễn Duy H10 chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Duy H11 ly hôn chị Bùi Thị H1.
- Về con chung: Giao cho chị Bùi Thị H1 trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Duy P2, sinh ngày 30/9/2013. Về cấp dưỡng nuôi con không đặt ra giải quyết. Hai bên có quyền và nghĩa vụ chăm sóc con chung theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Chấp nhận sự tự nguyện của bà Lê Thị B3 dưỡng, chăm sóc cháu Nguyễn Duy P6 thời gian chị Hllao động làm ăn ở nước ngoài.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Anh Nguyễn Duy H10 chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chuyển số tiền 300.000 đồng anh H nộp tạm ứng án phí theo Biên lai số 0000065 ngày 28 tháng 12 năm 2023 (do anh Khúc Bình M thay) tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình sang thi hành án phí.
Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt anh Nguyễn Duy H, chị Bùi Thị H1. Anh H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, chị H1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đã ký Phạm Ngọc Thành |
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH Bản án số: 74/2024/HNGĐ-ST Ngày 12-8-2024 V/v Tranh chấp hôn nhân gia đình |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc T.
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Hoàng Thị Thu H12.
- Bà Trần Thị N.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị S - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
Trong ngày 12 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 88/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Phạm Thị N1, sinh năm 1987
Nơi đăng ký HKTT: Thôn N, xã S, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Nơi ở hiện nay: N Jalan Mutira emas A (số nhà B, đường M, tỉnh Autin, thành phố J, Malaysia).
* Bị đơn: Anh Nguyễn Bá T1, sinh năm 1978
Nơi đăng ký HKTT: Thôn N, xã S, huyện T, tỉnh Thái Bình.
(Chị N1, anh T1 có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại Đơn khởi kiện xin ly hôn, Bản tự khai đề ngày 20/6/2024; Nguyên đơn – chị Phạm Thị N1 trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Bá T1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T (nay là xã S), huyện T, tỉnh Thái Bình ngày 16/02/2005. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thẫn là do bất đồng về quan điểm sống, lối sống, hai bên không tin tưởng nhau dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, cuộc sống gia đình không êm ấm. Năm 2017, chị đi lao động tại Malaysia, do khoảng cách địa lý và có mâu thuẫn từ trước nên vợ chồng không liên lạc, không ai quan tâm chăm sóc nhau, kinh tế tách biệt. Vợ chồng đã nhiều lần hòa giải nhưng không thành và sống ly thân từ năm 2016 đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Bá T1.
- Về quan hệ con chung: Chị và anh Nguyễn Bá T1 có 01 con chung là Nguyễn Bá Đ, sinh ngày 27/11/2005. Hiện nay, cháu Đ đã trên 18 tuổi, đã thành niên và có khả năng lao động nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về nuôi dưỡng và cấp dưỡng.
- Về quan hệ tài sản: Chị và anh Nguyễn Bá T1 không có tài sản chung, anh T1 khai vợ chồng có vay Ngân hàng C số tiền 86.000.000 đồng là không đúng, hiện nay vợ chồng chị không có khoản nợ nào. Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ tài sản.
Do chị đang sinh sống và làm việc tại Malaysia không thể đến Tòa án tham gia phiên tòa được, chị có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Việc giao nộp tài liệu, chứng cứ và nhận các văn bản của Tòa án, chị ủy quyền cho ông Nguyễn Bá H13, sinh năm 1963; địa chỉ: Số nhà B, đường N, phường N, quận L, thành phố Hà Nội.
* Tại bản tự khai; Đơn đề nghị về việc giải quyết vắng mặt đề ngày 01/7/2024; Bị đơn - anh Nguyễn Bá T1 trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian, điều kiện kết hôn cũng như thời gian, nguyên nhân mâu thuẫn anh T1 khai phù hợp với lời khai như của chị N1 đã trình bày. Nay chị N1 xin ly hôn anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh đồng ý ly hôn.
- Về quan hệ con chung: Anh và chị Phạm Thị N1 có 01 con chung là cháu Nguyễn Bá Đ, sinh ngày 27/11/2005. Hiện nay cháu Đ đã trên 18 tuổi, tự lập về mọi mặt, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.
- Về quan hệ tài sản: Anh và chị N1 không có tài sản chung, anh và chị N1 có vay Ngân hàng chính sách xã hội 86.000.000 đồng, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết về nợ chung của vợ chồng.
Do công việc không nghỉ thường xuyên được, anh đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
* Về tố tụng: Nguyên đơn chị Phạm Thị N1 ở nước ngoài (Malaysia), căn cứ vào khoản 3 Điều 35, Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình. Chị N1, anh T1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hợp lệ, áp dụng khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị N1, anh T1.
* Về nội dung:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Phạm Thị N1 và anh Nguyễn Bá T1 được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 16/02/2005 tại Ủy ban nhân dân xã T (nay là xã S), huyện T, tỉnh Thái Bình được xác định là hôn nhân hợp pháp kể từ thời điểm đăng ký kết hôn. Lời khai của chị N1 và anh T1 đều thể hiện mâu thuẫn giữa chị N1 và anh T1 là có thật, đã kéo dài nhiều năm, tình cảm vợ chồng không còn, chị N1 xin ly hôn, anh T1 đồng ý. Xét thấy cuộc sống hôn nhân giữa chị N1 và anh T1 không có hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị N1 và anh T1 ly hôn là phù hợp.
[2] Về con chung: Chị N1 và anh T1 có 01 con chung là Nguyễn Bá Đ, sinh ngày 27/11/2005, hiện nay con chung đã thành niên, không bị mất năng lực hành vi, có khả năng lao động nên không giải quyết vấn đề nuôi dưỡng và cấp dưỡng.
[3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị N1 khai vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung. Anh Nguyễn Bá T1 khai vợ chồng không có tài sản chung nhưng có vay nợ Ngân hàng chính sách xã hội số tiền 86.000.000 đồng. Tòa án đã thông báo yêu cầu anh T1 cung cấp tài liệu, chứng cứ về việc vay nợ nhưng anh T1 không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của anh, vì vậy về tài sản chung và nợ chung Tòa án không đặt ra giải quyết.
[4] Về án phí: Chị Phạm Thị N1 phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị N1 được ly hôn anh Nguyễn Bá T1.
- Về con chung: Không đặt ra giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị Phạm Thị N1 phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chuyển số tiền 300.000 đồng chị N1 nộp tạm ứng án phí theo Biên lai số 0000214 ngày 20 tháng 6 năm 2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình sang thi hành án phí.
Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt chị Phạm Thị N1, anh Nguyễn Bá T1. Chị N1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, anh T1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đã ký Phạm Ngọc Thành |
Bản án số 47/2024/HNGĐ-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 47/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cho ly hôn
