TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 74/2024/HSST
Ngày 11 - 6 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ,
TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Quang Vinh
Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Ngọc Chiến và bà Nguyễn Thị Hiền
- Thư ký phiên tòa: bà Phạm Thị Thu Trang là Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 61/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/QĐ-HPT, ngày 04/6/2024, đối với bị cáo:
- Phạm Đình Đ - tên gọi khác: không ; giới tính: nam; sinh ngày 16 tháng 02 năm 2001 tại: T, Bắc Ninh; nơi cư trú: thôn B, xã N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: lớp 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông: Phạm Đình T; con bà: Nguyễn Thị Đ1: vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: chưa; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú - có mặt tại phiên tòa
- Nguyễn Văn C - tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh ngày 10 tháng 12 năm 2001 tại: T, Bắc Ninh; nơi cư trú: thôn B, xã N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; Chỗ ở hiện tại: phường V, quận H, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: lớp 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông: Nguyễn Văn M; con bà: Nguyễn Thị N; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: chưa; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú - có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
- Nguyễn Đình T1, sinh ngày 15/10/2000; nơi cư trú: thon Y, xã C, huyện T, Tp Hà Nội
- Nguyễn Văn N1, sinh ngày: 13/01/2001; nơi cư trú: thôn G, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.
- Khuất Quang A, sinh ngày 01/3/2002; nơi cư trú: thôn G, xã C, huyện T, Tp Hà Nội.
- Nguyễn Thùy L, sinh ngày 03/5/1998; nơi cư trú: khu Viêm Xá, phường Hòa Long, Tp Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
- Trần Văn C1, sinh ngày: 17/11/1998; nơi cư trú: khu D, phường V, Tp B, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 16/5/2023, chị Bùi Ninh G (trú tại: tổ A, khu B, phường C, thành phố C) đã bị đối tượng trên mạng xã hội lừa đảo chuyển khoản tổng số tiền 404.300.000 đồng vào tài khoản số 12110000979244 của B mang tên NGUYEN VAN NHAT
Điều tra theo tài khoản NGUYEN VAN NHAT trên đã xác định được như sau: Phạm Đình Đ và Nguyễn Văn C là họ hàng. Từ tháng 02/2023, Đ thấy mạng xã hội facebook có bài đăng (không nhớ tên của người đăng bài) cần mua tài khoản ngân hàng nên Đ rủ C lập và mua bán tài khoản kiếm tiền. C đồng ý và thỏa thuận: C tìm mua tài khoản ngân hàng với giá 1.000.000 đồng - 1.500.000 đồng/tài khoản hoặc C tự mở, để bán lại cho Đ với giá 2.000.000 đồng - 3.000.000 đồng/tài khoản. Còn Đ sẽ bán lại cho người mua với giá cao hơn để kiếm lời.
Để thuận tiện cho việc mở tài khoản thì Đ, C cung cấp số điện thoại cho người bán tài khoản, để họ đăng ký Internet Banking nhận mã OTP. Đ lập nhóm chat trên mạng xã hội Telegram gồm Đ, C và người bán, người mua tài khoản để tiện giao dịch, trao đổi thông tin, mã OTP. Nhóm này chỉ tồn tại thời gian ngắn, sau khi hoàn thành xong giao dịch thì Đ, C hoặc người mua tài khoản của Đ sẽ xóa nhóm.
Trong thời gian từ tháng 02/2023 đến tháng 8/2023 C đã dùng 20.500.000 đồng để mua 21 tài khoản của 06 người, bán cho Đ được 41.0000.000 đồng, thu lợi 20.500.000 đồng. C còn lập 21 tài khoản mang tên C để bán cho Đ được 42.000.000 đồng. Tổng số tiền C thu lợi là 62.500.000 đồng. Cụ thể:
Khoảng tháng 7/2023, C mua của Nguyễn Đình T1 (sinh năm 2000, trú tại: thôn Y, xã C, huyện T, thành phố Hà Nội) 07 tài khoản (do T1 tự mở) tại các ngân hàng: Tài khoản số 68232323666888 tại Ngân hàng thương mại cổ phần Q (viết tắt là MB), Tài khoản số [...] tại Ngân hàng thương mại cổ phần C3 (viết tắt là V), tài khoản số 34950187 tại Ngân hàng thương mại cổ phần Á (viết tắt là A1), tài khoản số 2161153246 tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đ3 (viết tắt là B), tài khoản số 06859276801 tại Ngân hàng thương mại cổ phần T5 (viết tắt là T6), tài khoản số [...] tại Ngân hàng V1 (viết tắt là V2) và tài khoản số 1039390104 tại Ngân hàng thương mại cổ phần N2 (viết tắt là V3). C trả cho T1 6.000.000 đồng, rồi bán lại cho Đ 07 tài khoản này được 12.000.000 đồng, thu lợi 6.000.000 đồng.
Trong tháng 7 và tháng 8/2023, T1 còn rủ bạn là Khuất Quang A (sinh năm 2002, trú tại: thôn C, xã C, huyện T, thành phố Hà Nội) tự mở 02 tài khoản tại các ngân hàng: tài khoản số 81564111 tại M1 và tài khoản số 3418899999 tại Ngân hàng thương mại cổ phần K (viết tắt là T7); rủ Nguyễn Huy T2 (sinh năm 2000, trú tại xã C, huyện T, thành phố Hà Nội) tự mở 02 tài khoản tại các ngân hàng: tài khoản số 31072000666999 tại M1 và tài khoản số [...] tại T7. Sau đó, T1 bán 04 tài khoản trên cho C được 4.000.000 đồng, T1 trả T2 2.000.000 đồng, còn 2.000.000 đồng của Quang A thì T1 giữ lại vì Quang A nợ tiền T1. Sau đó, C bán 04 tài khoản trên cho Đ được 8.000.000 đồng, thu lợi 4.000.000 đồng.
Khoảng tháng 3/2023, C mua của Nguyễn Văn N1 (sinh năm 2001, trú tại: thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh) 05 tài khoản tự mở tại các ngân hàng: tài khoản số 1037299235 tại V3, tài khoản số [...] tại MB, tài khoản số 5434561 tại A1, tài khoản số 10487844196 tại V và tài khoản số 12110000979244 của B (là tài khoản mà chị G đã chuyển 404.300.000 đồng vào). C trả cho N1 5.500.000 đồng, rồi bán 05 tài khoản này cho Đ được 11.000.000 đồng, thu lợi 5.500.000 đồng.
Khoảng tháng 3/2023, C mua của Nguyễn Thùy L (sinh năm 1998, trú tại: khu V, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh) 03 tài khoản tự mở tại các ngân hàng: tài khoản số 22210005227087 tại B, tài khoản số 00198667799 tại MB và tài khoản số 32579307 tại A1. C trả cho L 3.000.000 đồng, rồi bán cho Đ được 6.000.000 đồng, thu lợi 3.000.000 đồng.
Khoảng tháng 4/2023, L rủ Trần Văn C1 (sinh năm 1998, trú tại: Khu Đ, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh) tự mở 02 tài khoản tại các ngân hàng: tài khoản số 4189173401 tại T6 và tài khoản số 1036244522 tại V3. Sau đó, L bán cho C được 2.000.000 đồng, C bán lại cho Đ được 4.000.000 đồng, thu lợi 2.000.000 đồng.
Ngoài mua 21 tài khoản mua bán trên thì trong thời gian từ tháng 3/2023 đến tháng 8/2023, C còn tự lập 21 tài khoản tại các ngân hàng: tài khoản số 0556788888 tại S, tài khoản số [...] và 100872229694 tại V4, tài khoản số 35301177 và 34024387 tại A1, tài khoản số 4503848661; 45010006751032 và 22210004465820 tại B, tài khoản số 00002185138 tại T6, tài khoản số [...] tại MB, tài khoản số 8810122001 tại V2, tài khoản số 3531899999 tại T7, tài khoản số 03501014739373 tại Ngân hàng thương mại cổ phần H (viết tắt là M2), tài khoản số 070704070007379 tại ngân hàng thương mại cổ phần phát triển thành phố H (viết tắt là H1), tài khoản số [...] tại ngân hàng thương mại cổ phần Đ4 (viết tắt là S1), tài khoản số [...] tại ngân hàng thương mại cổ phần N3 (viết tắt là N4) và tài khoản số [...]; 916925643 và 379737516 tại ngân hàng thương mại cổ phần Q1 (viết tắt là V5). C bán cho Đ 2.000.000đồng/tài khoản, thu lợi được 42.000.000 đồng.
Đ mua tổng cộng của C 42 tài khoản, trả cho C 83.000.000 đồng, rồi bán cho người không quen biết, có tài khoản T3 là “L” và “Tào Tháo” được 103.500.000 đồng, trừ đi 83.000.000 đồng phải trả cho C, thì Đ thu lợi được 20.500.000 đồng..
Cáo trạng số 505/CT-VKSCP, ngày 08/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C và Phạm Đình Đ về tội “Mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng” được quy định tại khoản 1 Điều 291 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Đình Đ và Nguyễn Văn C có lời khai nhận tội phù hợp với nội dung tóm tắt vụ án nêu trên. Ngoài ra bị cáo Phạm Đình Đ còn khai nhận Đ giao dịch với người mua tài khoản, giao tài khoản và mã OTP cho người mua tài khoản qua ứng dụng telegram, người mua tài khoản chuyển tiền cho Đ qua shiper nên Đ không biết được người mua tài khoản là ai..
Những người làm chứng Nguyễn Đình T1, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Thùy L, Khuất Quang A và Trần Văn C1 có lời khai phù hợp tóm tắt nội dung vụ án.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 291 Bộ luật hình sự, điểm i, s khoản 1 khoản 2 điều 51, Điều 17, Điều 58, điểm a,b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a,b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; xử phạt tiền bị cáo Phạm Văn Đ2 từ 90.000.000₫ đến 100.000.000đ; xử phạt tiền Nguyễn Văn C từ 80.000.000 đ đến 90.000.000 đ; tịch thu tiêu hủy 04 sim điện thoại; tịch thu sung ngân sách nhà nước 02 chiếc điện thoại di động; truy thu tiền thu lời bất chính do phạm tội mà có của Phạm Đình Đ số tiền 20.500.000₫ và của Nguyễn Văn C số tiền 62.500.000 đ sung ngân sách nhà nước. Yêu cầu các ngân hàng đóng lại 29 tài khoản, chuyển số tiền dư có tại các tài khoản sau khi trừ đi chi phí phát sinh cho cơ quan điều tra để tiếp tục xác minh và xử lý theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không tranh luận gì.
Các bị cáo không nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng theo quy định pháp luật.
[2] Tại cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay cả hai bị cáo Phạm Đình Đ và Nguyễn Văn C đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của những người làm chứng, các tin nhắn, sao kê tài khoản ngân hàng, phù hợp các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ các chứng cứ đó đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 3 đến tháng 8/2023, tại thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn C đã có hành vi mua 21 tài khoản ngân hàng của Nguyễn Đình T1, Nguyễn Văn N1 và Nguyễn Thùy L với giá 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng/tài khoản rồi đem bán cho Phạm Đình Đ với giá 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng/tài khoản, thu lợi 20.500.000 đồng. C còn tự mở 21 tài khoản ngân hàng mang tên C rồi đem bán cho Phạm Đình Đ với giá 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng/tài khoản, thu lợi 42.000.000 đồng. Còn Đ sau khi mua của C 42 tài khoản trên, đã bán cho người khác kiếm lời 20.500.000 đ. Hành vi đó của hai bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng” được quy định tại khoản 1 Điều 291 Bộ luật hình sự.
Điều 291 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác với số lượng từ 20 tài khoản đến dưới 50 tài khoản hoặc thu lợi bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm....”
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, phạm xâm phạm vào trật tự quản lý Nhà nước trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông và lĩnh vực tài chính ngân hàng; xâm phạm những quy định của Nhà nước về bảo vệ quyền sở hữu tài sản của cơ quan, tổ chức hoặc công dân; quy định của Nhà nước về bảo đảm an toàn mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số của người khác. Hành vi của các bị cáo còn tạo điều kiện cho các đối tượng khác lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác gây mất trật tự trị an nên phải xử lý nghiêm.
[4] Đây là vụ án đồng phạm trong đó bị cáo Đ là người khởi xướng và lôi kéo C phạm tội nên giữ vai trò đầu, bị cáo Chung giữ vai trò sau nên có hình phạt nhẹ hơn Đ.
[5] Hội đồng xét xử cũng xem xét hai bị cáo Nguyễn Văn C, Phạm Đình Đ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đầu thú nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: không cần thiết phải áp dụng thêm hình phạt bổ sung là phạt tiền vì đã áp dụng phạt tiền là hành phạt chính.
[7] Về vật chứng của vụ án: 02 chiếc điện thoại di động thu của hai bị cáo là công cụ phương tiện phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước; 04 chiếc sim điện thoại là vật chứng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy; truy thu của mối bị cáo số tiền 20.500.000đ thu lời bất chính do phạm tội mà có; 42 tài khoản đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C yêu cầu các ngân hàng tạm đình chỉ hoạt động. Trong đó có 11 tài khoản đã bị chủ tài khoản đóng lại là: số tài khoản 45010006751032 và 22210004465820 tại B; số tài khoản 1037893973 và 1035734070 tại V6; số tài khoản 916925643 và 379737516 tại V5; số tài khoản 68232323666888 tại MB; số tài khoản 101979332107, 105879384033, 100872229694 tại V và số tài khoản 0556788888 tại S. Số tài khoản 3418899999 tại T8 đã bị Cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng – Cục P yêu cầu tạm dừng giao dịch và số tài khoản 12110000979244 tại B đang liên quan đến vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách vụ án để xử lý sau nên 02 tài khoản này để cơ quan đã ra quyết định liên quan đến hai tài khoản này xử lý. Các tài khoản còn lại các chủ tài khoản đã bán bất hợp pháp cho các bị cáo cần yêu cầu buộc các ngân hàng đóng các tài khoản này lại để tránh việc các đối tượng xấu có thể lợi dụng để phạm tội. Trong một số tài khoản này còn có một số dư nhất định, nhiều nhất là số tài khoản 3531899999 tại T8 có số dư là 10.058.823 đồng. Những số tiền này cơ quan điều tra chưa xác định được người sở hữu hợp pháp nên yêu cầu các ngân hàng chuyển toàn bộ số tiền này về tài khoản của Cơ quan điều tra để tiếp tục điều tra làm rõ. Qua thời hạn 01 năm nếu không xác định được chủ sở hữu hợp pháp thì tịch thu sung ngân sách nhà nước theo quy định tại Điều 228 Bộ luật dân sự.
Số tiền 42.000.000 đồng mà Nguyễn Văn C thu lời do bán 21 tài khoản của mình nhưng hành vi này của C không phạm tội, cơ quan điều tra đã đã thông báo để chính quyền địa phương nơi Chung cư trú xử phạt hành chính vì vậy số tiền thu lời bất chính này của C sẽ được chính quyền địa phương xử lý khi xử phạt hành chính.
[8] Đối với Nguyễn Đình T1 có hành vi bán tài khoản của Khuất Quang A, Nguyễn Huy T2; Nguyễn Thùy L có hành vi bán tài khoản của Trần Văn C1 cho C, nhưng số tài khoản mua bán chưa đủ số lượng để cấu thành tội phạm; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã thông báo để Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và tỉnh Bắc Ninh xử phạt hành chính đối với các đối tượng trên. Nguyễn Văn C, Nguyễn Đình T1, Nguyễn Văn N1, Nguyễn Thùy L, Nguyễn Huy T2 và Trần Văn C2 có hành vi bán tài khoản của mình nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã thông báo để chính quyền địa phương nơi các đối tượng cư trú xử phạt hành chính theo quy định. Tiền thu lời bất chính của những người này sẽ được công an và chính quyền các địa phương xử lý khi xử phạt hành chính.
[9] Đối với việc chị Bùi Ninh G bị lừa đảo chiếm đoạt 404.300.000 đồng, chưa xác định được bị can, cũng như các đối tượng có tài khoản telegram "L", "Tào Tháo" (theo Phạm Đình Đ khai là người mua tài khoản của Đ) chưa làm rõ được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã ra Quyết định tách vụ án để xử lý sau.
[10] Về án phí: Bị cáo chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Nguyễn Văn C và Phạm Đình Đ phạm tội “Mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng” được quy định tại khoản 1 Điều 291 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 291; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Phạm Đình Đ 80 (tám mươi triệu) đồng.
Nguyễn Văn C 60 (sáu mươi triệu) đồng
Hủy lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh đối với hai bị cáo.
Căn cứ điểm a,b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 228 Bộ luật dân sự; tịch thu tiêu hủy 04 sim điện thoại; tịch thu sung ngân sách nhà nước 02 điện thoại di động theo biên bản giao nhận vật chứng số: 119/BB-THA; ngày 31 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả); buộc Đ và C mỗi bị cáo nộp lại số tiền 20.500.000đ (hai mươi triệu năm trăm ngàn đồng) sung ngân sách nhà nước;
Yêu cầu các ngân hàng thực hiện việc đóng 29 tài khoản, cụ thể:
- Số tài khoản 3531899999; 3107200000 tại T8
- Số tài khoản 4503848661; 2161153246; 22210005227087 tại BIDV
- Số tài khoản 9845390024; 1039390104; 1037299235; 1036244522 tại V6
- Số tài khoản 692948889; 632802626; 00198667799; 81564111; 31072000666999 tại MB
- Số tài khoản 070704070007379 tại H1
- Số tài khoản 010122001 tại N
- Số tài khoản 000009702761 tại S
- Số tài khoản 043328113 tại VIB
- Số tài khoản 10487844196 tại V
- Số tài khoản 00002185138; 06859276801; 4189173401 tại TP Bank
- Số tài khoản 35301177; 34024387; 34950187; 5434561; 32579307 tại ACB
- Số tài khoản 966686861510 tại V2
- Số tài khoản 03501014739373 tại MSB
Các ngân hàng chuyển số tiền dư tại các tài khoản 03501014739373 tại ngân hàng M2, có số dư 143.000 đồng; tài khoản 3531899999 tại ngân hàng T9, có số dư 10.058.823 đồng; tài khoản 4503848661 tại ngân hàng B, có số dư 921.170 đồng; tài khoản 692948889 tại ngân hàng M1, có số dư 89 đồng; tài khoản 0556788888 tại ngân hàng S, có số dư 390.160 đồng; tài khoản 010122001 tại ngân hàng N3, có số dư 40.064 đồng; tài khoản 043328113 tại ngân hàng V5, có số dư 57.720 đồng; tài khoản 105879384033 tại ngân hàng V7, có số dư 503.807 đồng; tài khoản 00002185138 tại ngân hàng T10, có số dư 55.052 đồng; tài khoản 35301177 tại ngân hàng A1, có số dư 40.007 đồng; tài khoản 966686861510 tại ngân hàng V8, có số dư 01 đồng sau khi trừ đi các chi phí phát sinh đến tài khoản của Cơ quan cảnh sát điều tra Tp C tạm giữ để tiếp tục xác định và trả cho chủ sở hữu hợp pháp. Qua thời hạn 01 năm nếu không xác định được chủ sở hữu hợp pháp thì tịch thu sung ngân sách nhà nước. (Cơ quan cảnh sát điều tra Tp C, T4: 394909040006; Mở tại: Kho bạc nhà nước C4)
Căn cứ khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Bùi Quang Vinh |
Bản án số 74/2024/HSST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH về mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng
- Số bản án: 74/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn C và Phạm Đình Đ - mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng
