Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRÀ CÚ

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2024/HS-ST

Ngày 10-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Truyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Sơn Ken

Bà Cao Thị Ngọc Hiền

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Chế Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Kim Sum, Kiểm sát viên

Ngày 10 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 27/2024/TLST-HS ngày 01/4/2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 77/2024/QĐXXST-HS, ngày 26 tháng 7 năm 2024 đối với:

Bị cáo Kim C, sinh ngày 01/01/1972, tại huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi cư trú ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi ở trước khi bị khởi tố ấp B Dơi B, xã K, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ (chỉ biết ký tên); dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch Việt Nam; con ông Kim V (đã chết) và bà Kim Thị S (đã chết), bị cáo có cợ tên Kim Thị S1, sinh năm 1972 và 01 người con tên Kim C1, sinh năm 2006; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Chưa từng bị kết án, chưa từng bị xử phạt hành chính; Bị khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/12/2023, sau đó bị cáo bỏ trốn đến ngày 16/7/2024 bị bắt theo quyết định truy nã, có mặt.

Bị hại: Ông Trần Ngọc V1, sinh ngày 01/01/1970. Địa chỉ: Khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh, văng mặt.

Bị hại: Ông Kim Ngọc X, sinh ngày 15/5/1985. Địa chỉ: ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Đinh Thị X1, sinh ngày 01/01/1985. Địa chỉ: ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 14/10/2023, bị cáo Kim C thuê xe ôm đi từ xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh đến khu vực thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh để tìm tài sản trộm cắp, bán lấy tiền tiêu xài. Khi đến khu vực vỉa hè phía trước Trung tâm y tế huyện T, bị cáo C nhìn thấy 01 xe mô tô, H wave, biển kiểm soát 84H3-1666 có gắn sẵn chìa khóa trên xe của ông Trần Ngọc V1 đang đậu không ai trông coi, quản lý nên bị cáo C đi đến dẫn chiếc xe mô tô trên xuống lộ nhựa và khởi động máy điều khiển về hướng xã P, huyện T, tỉnh Trà Vinh, sau đó bị cáo C bán cho cơ sở thu mua ve chai do bà Đinh Thị X1, sinh ngày 01/01/1985, nơi cư trú ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Trà Vinh làm chủ được số tiền 800.000 đồng.

Qua điều tra, xác minh bị cáo C còn khai nhận: Vào khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 15/10/2023, ông Thạch T, sinh ngày 29/10/1997, nơi thường trú và nơi ở hiện tại ấp B Dơi B, xã K, huyện T, tỉnh Trà Vinh rủ bị cáo C đi tìm tài sản để trộm cắp thì bị cáo C đồng ý. Sau đó, ông T điều khiển xe mô tô hai bánh không rõ nhãn hiệu và biển kiểm soát chở bị cáo C đến khu vực ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh thì bị cáo C phát hiện 01 xe mô tô nhãn hiệu DAEHAN, biển kiểm soát 84F9-1154 của ông Kim Ngọc X, sinh ngày 15/5/1985, nơi thường trú và nơi ở hiện tại ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh đang dựng trên bờ dừa không có ai trông coi, quản lý, trên xe không có chìa khóa xe. Lúc này, ông T lén lút đi đến dùng tay bứt dây điện trong xe, đạp nổ máy và giao xe mô tô biển kiểm soát 84F9-1154 cho bị cáo C điều khiển về nhà của ông T. Tại đây, ông T sử dụng một biển số xe khác thay với biển số xe 84F9-1154 và gắn vào xe mô tô của ông X, sau đó điều khiển đến nhà của bị cáo C cất giấu. Đến ngày 16/10/2023, bị cáo C nảy sinh ý định để chiếc xe mô tô này sử dụng cho nhu cầu đi lại của bản thân nên đưa cho ông T số tiền 400.000 đồng, đồng thời mua nước sơn màu đen sơn lại xe, nhưng do hết nước sơn nên bị cáo C điều khiển xe mô tô biển số xe 84F9-1154 của ông X đến khu vực thị trấn T để mua thêm nước sơn thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện và mời làm việc. Tại Cơ quan Công an, bị cáo C đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐGTS, ngày 12 tháng 12 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T kết luận:

  • - 01 (Một) xe mô tô hai bánh, màu sơn đỏ, loại xe nữ, nhãn hiệu HONDA WAVE, số khung: HHC09073Y606348, số máy: HC09E0606469, biển kiểm soát: 84H3-1666, xe đã qua sử dụng 18 năm tại thời điểm ngày 14/10/2023 có giá là 5.000.000 đồng (Xe của ông Trần Ngọc V1).
  • - 01 (một) xe mô tô hai bánh, màu sơn xanh, loại xe nữ, nhãn hiệu DAEHAN, số khung: MPCG0012M021447, số máy: DGE1001031947, biển kiểm soát: 84F9-1154, hiện tại xe không gắn biển kiểm soát, xe thay đổi màu sơn từ màu xanh thành màu đen, xe đã qua sử dụng 20 năm tại thời điểm ngày 15/10/2023 có giá là 2.500.000 đồng (Xe của ông Kim Ngọc X).

* Về việc tạm giữ và xử lý vật chứng có liên quan trong vụ án:

- Ngày 27/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu gồm:

  • + 01 (một) xe mô tô hai bánh, màu sơn xanh, loại xe nữ, nhãn hiệu DAEHAN, số khung: MPCG0012M021447, số máy: DGE1001031947, biển kiểm soát: 84F9-1154, hiện tại xe không gắn biển kiểm soát, xe thay đổi màu sơn từ màu xanh thành màu đen, xe đã qua sử dụng 20 năm từ bị cáo Kim C.
  • + 01 (một) xe mô tô hai bánh, màu sơn đỏ, loại xe nữ, nhãn hiệu HONDA WAVE, số khung: HHC09073Y606348, số máy: HC09E0606469, biển kiểm soát: 84H3-1666, xe đã qua sử dụng 18 năm từ bà Đinh Thị X1.

- Ngày 28/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu bằng hình thức trao trả lại cho chủ sở hữu ông Trần Ngọc V1 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE và Kim Ngọc X 01 xe mô tô nhãn hiệu DAEHAN nhận lại để quản lý.

- Về số tiền 800.000 đồng mà bị cáo C bán xe mô tô biển kiểm soát 84H3-1666 của ông Trần Ngọc V1 cho bà Đinh Thị X1, sau khi làm việc với Cơ quan Công an, bị cáo C đã tự nguyện khắc phục đủ cho bà X1 nên Cơ quan điều tra không có tạm giữ số tiền này.

- Đối với biển số xe 84F9-1154 gắn trên xe mô tô của ông Kim Ngọc X, thời điểm Cơ quan điều tra tạm giữ, trên xe không gắn biển số. Quá trình điều tra, bị cáo C đã giao nộp biển số này nên Cơ quan điều tra đã trao trả biển số xe 84F9-1154 cho ông X nhận lại để quản lý.

- Đối với biển số xe mà bị cáo C trình bày Thạch Tí thay đổi với biển số xe 84F9-1154 để gắn vào xe mô tô của ông Kim Ngọc X, quá trình bị cáo điều khiển xe mô tô đã bị rơi mất, bị cáo không nhớ được các ký tự trên biển số xe, do đó không có cơ sở để xác minh, truy tìm.

Tại Cáo trạng số 32/CT-VKS-HS, ngày 29/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú truy tố bị cáo Kim C về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, bị cáo Kim C có lời khai thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của bị hại ông Trần Ngọc V1 và ông Kim Ngọc X đúng như cáo trạng truy tố. Đối với các kết luận định giá tài sản thì bị cáo đồng ý, bị cáo không thay đổi lời khai.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Trần Ngọc V1 đã nhận lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 84H3-1666, bà Đinh Thị X1 đã nhận lại số tiền 800.000 đồng và không yêu cầu bị cáo C bồi thường trách nhiệm dân sự. Ông Kim Ngọc X đã nhận lại chiếc xe mô tô kèm biển số 84F9-1154, việc bị cáo sơn xe mô tô của ông X thành màu đen thì ông X không yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự

Phần luận tội, sau khi phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm, nhân thân, điều kiện, hoàn cảnh, tính chất mức độ hành vi của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị tuyên bố bị cáo Kim Chính phạm t “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Kim C từ 09 tháng đến 18 tháng tù. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại đã thu hồi tài sản trả lại cho bị hại xong. Việc xử lý vật chứng: đã xử lý xong. Về án phí đề nghị buộc bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không tự bào chữa và nói lời sau cùng: Bị cáo bị bệnh tiểu đường và dạ dày, bị cáo biết lỗi rồi xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo một lần bị cáo không dám tái phạm nữa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Căn cứ vào lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ chứng cứ xác định vào khoảng 13 giờ 40 phút ngày 14/10/2023 tại khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh, bị cáo Kim C có hành vi lén lút lấy trộm 01 xe mô tô, biển số 84H1-1666 của ông Trần Ngọc V1, gây thiệt hại trị giá 5.000.000 đồng. Đến ngày 15/10/2023, bị cáo C tiếp tục lấy trộm 01 xe mô tô, biển số 84F9-1154 của ông Kim Ngọc X, gây thiệt hại trị giá 2.500.000 đồng. Xét lời khai nhận tội của bị cáo Kim C là phù hợp với hiện trường vụ án, phù hợp với thời gian bị cáo có mặt tại hiện trường vụ án, phù hợp lời khai của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là bà Đinh Thị X1.

[2] Hành vi của bị cáo Kim C đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của các bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo Kim C là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Kim C đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự. Bị cáo Kim C thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐGTS, ngày 12 tháng 12 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T kết luận 01 (Một) xe mô tô hai bánh, màu sơn đỏ, loại xe nữ, nhãn hiệu HONDA WAVE, biển kiểm soát: 84H3-1666, xe đã qua sử dụng có giá là 5.000.000 đồng (Xe của ông Trần Ngọc V1) và 01 (một) xe mô tô hai bánh, màu sơn xanh, loại xe nữ, nhãn hiệu DAEHAN, biển kiểm soát: 84F9-1154, hiện tại xe không gắn biển kiểm soát, có giá là 2.500.000 đồng (của ông Kim Ngọc X). Như vậy, bị cáo đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của 02 bị hại, mỗi lần giá trị tài sản đều trên 2.000.000 đồng. Do đó, Cáo trạng số 32/CT-VKS-HS, ngày 29/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú truy tố bị cáo Kim C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hìnhnăm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hìnhsự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ.

[3] Tội phạm bị cáo Kim C thực hiện là ít nghiêm trọng, nhưng trong quá trình chuẩn bị xét xử, thì bị cáo đã bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã, hành vi của bị cáo là thể hiện bị cáo xem thường sự nghiêm minh của pháp luật nên cần phải xử lý nghiêm minh theo pháp luật, cần thiết phải xử phạt bị cáo mức án tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm để giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội đối với những hành vi tương tự.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tài sản trộm cắp được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu, bị cáo là người dân tộc Khmer, không biết chữ, trình độ học vấn thấp nên hiểu biết pháp luật có phần hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không có yêu cầu nên không xem xét.

[5] Về vật chứng: Đã xử lý xong giai đoạn điều tra.

[6] Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[7] Hội đồng xét xử đã thẩm tra các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố và thấy rằng các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tuyên bố bị cáo Kim Chính phạm t “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Kim C 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16 tháng 7 năm 2024.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Các bị hại không có yêu cầu nên không xét.

Việc xử lý vật chứng: Đã xử lý xong

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại ông Trần Ngọc V1, ông Kim Ngọc X; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Đinh Thị X1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết công khai hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại, người liên quan;
  • - VKSND huyện Trà Cú;
  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - Sở tư pháp tỉnh Trà Vinh;
  • - Cơ quan CSĐTCA huyện Trà Cú;
  • - Cơ quan THAHSCA huyện Trà Cú;
  • - Cơ quan THADS huyện Trà Cú;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Trà Cú;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Truyền

6

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Thị Ngọc Hiền

Nguyễn Văn Truyền

Sơn Ken

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2024/HS-ST ngày 10/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 74/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Kim Chính trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger