|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 74/2024/HS-PT Ngày: 10.7.2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Duy
Các Thẩm phán: Ông Lê Xuân Hải
Bà Đỗ Thị Thắm
Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Hồng Vỹ là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Bà Hồ Kim Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 54/2024/TLPT-HS ngày 04 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Phạm Hữu L do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 54/2024/HS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Phạm Hữu L, sinh ngày 29/5/1988 tại TP ., tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: Tổ F, khu phố F, phường N, TP ., tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Phạm Hữu B, sinh năm 1955 và bà: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1957; Vợ: Trần Thị Kim H, sinh năm 1988, có 02 người con sinh năm 2014 và năm 2017; Tiền án, tiền sự: không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/5/2023 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra vụ án còn có 03 bị cáo khác không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị nên không triệu tập đến phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 17/5/2023, Phạm Hữu L cùng Trần Khoa N, Trương Hoàng P và Nguyễn Văn Đ1 cùng ngồi nhậu tại quán “Phong Mập” của P, địa chỉ: A L, khu V, P. Đ, TP .. Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, N tiếp tục rủ nhau đến nơi khác nhậu. L điều khiển xe mô tô 77L1-478.87 (do Nguyễn Đôn Thế M làm chủ sở hữu) chở N đi từ quán “Phong Mập” về phường N. Khi đi đến đoạn đường N (gần đoạn giao nhau với đường Đ) thuộc phường N thì N nhìn thấy Dương Tấn P1 đang điều khiển xe mô tô biển số: 54R4-3894 chở Lê Thị Hồng T (bạn gái P1) chạy cùng chiều phía trước nên nói cho L biết là P1 nợ tiền và bảo L chạy xe lên chặn xe P1 lại. L vượt lên chặn xe P1 lại, N xuống xe tới tắt máy, rút chìa khoá xe của P1 rồi dùng tay trái túm lấy cổ áo, tay phải đánh liên tục vào vùng mặt, đầu và lưng của P1, nói: “Sao mầy không trả tiền nợ cho anh T1, ổng cho tao 10.000.000 đồng, bây giờ mầy trả cho tao!”. P1 nói: “Có gì từ từ rồi tính” thì N tiếp tục dùng tay đánh nhiều cái vào mặt P1. L nhìn thấy, nhận ra P1 và nhớ lại chuyện trước đó P1 đã lừa bạn của L tên là A lấy số tiền: 200.000.000 đồng nên xông vào dùng tay đánh nhiều cái vào mặt P1, yêu cầu P1 trả tiền cho A. Lúc này, Đ1 gọi cho L hỏi đang ở đâu thì L nói là đến ngã tư đường N - Đ có việc. Đ1 nói với P rồi P điều khiển xe mô tô biển số 77L1-252.81 (do Trương Hoàng D làm chủ sở hữu) chở Đ1 chạy đến nơi thì nghe N và L kể lại sự việc P1 nợ tiền bạn của N và L không trả thì cũng bực tức nên cả hai xông vào dùng tay đánh vào mặt P1. Biết P1 không có tiền nên N nói với cả nhóm: “Bây giờ đưa thằng chó này đi viết giấy nợ” rồi quay sang nói P1: “Đụ mẹ mầy bước lên xe, qua đây viết giấy nợ cho tao!”. Sau đó, N đến ngồi lên xe mô tô biển số 54R4-3894 đang dựng gần đó rồi nói: “Trèo lên xe!”, P1 không đồng ý thì N, L, Đ1, P tiếp tục có lời lẽ doạ đánh, ép lên xe nên P1 leo lên xe mô tô biển số 54R4-3894 ngồi phía sau N. Sau khi P1 lên xe, N nói T: “Mày bước lên xe luôn!”T sợ nên cũng lên ngồi phía sau P1. Nguyên điều khiển xe mô tô biển số 54R4-3894 chở P1 ngồi giữa, T ngồi sau, L điều khiển xe mô tô 77L1-478.87, P điều khiển xe mô tô 77L1-252.82 chở Đ1 ngồi sau cùng chạy về quán “Phong Mập” của P để ép P1 viết giấy nợ. Trên đường đi, P sợ đưa P1 về quán “Phong Mập” của mình sẽ ồn ào ảnh hưởng việc buôn bán nên nói N chở đi tìm nơi khác. Sau đó, P chở Đ1 dẫn L, N chở P1 và T chạy đến khu vực Đ, dừng lại trước quán “02 C" trên đường N thuộc tổ A, Khu phố A, P. Đ, TP . .
Tại đây, N, L, P, Đ1 tiếp tục chửi bới, đánh P1 và ép buộc P1 trả nợ. P1 nói không nợ nhóm N và không có tiền nên N vào quán nhậu “02 C” mượn giấy bút của quán nhậu rồi quay ra đưa P1, ép Phụng ghi giấy nợ. P1 nói không biết chữ không viết được, chỉ ký và ghi được tên của mình nên N đưa giấy, viết cho L để L viết giấy nợ. Đ1 cầm điện thoại bật đèn rọi, đọc hướng dẫn cho L viết giấy với nội dung ngày 18/5/2023, P1 có mượn số tiền: 210.000.000 đồng và cam kết trong vòng 01 tháng sẽ trả. Trong lúc L viết giấy, P, N dùng lời lẽ chửi P1, yêu cầu P1 phải trả tiền nếu không có tiền trả thì sẽ lấy xe mô tô biển số 54R4-3894 của P1 rồi yêu cầu P1 đưa giấy tờ xe, giấy tờ tuỳ thân của P1, lục trong cốp xe mô tô biển số 54R4-3894 của P1, lấy giấy tờ cá nhân trong ví của P1. Sau khi L viết xong giấy nợ, cả nhóm ép buộc P1 đọc lên số tiền nợ và ký xác nhận vào giấy nợ. P1 sợ bị nhóm N đánh nên miễn cưỡng ký vào trong giấy nợ mặc dù không nợ tiền nhóm của N. Nguyên giữ giấy nợ này. Sau khi ép P1 ký vào giấy nợ xong, P tiếp tục nắm cổ áo kéo và đánh vào mặt P1. Sau đó, P, L, Đ1 tìm cách tháo biển số xe mô tô biển số 54R4-3894 của P1 nhưng không được. Lợi dụng nhóm Nguyên sơ hở, P1 bỏ chạy trốn. Lúc này, N nói “Lấy xe nó về luôn” thì Đ1 nó lại; “T2 lấy xe nó làm gì”, N trả lời: “Lấy xe để nó trả tiền khi nào trả được tiền thì trả xe”, Đ1 nghe vậy không nói gì thêm còn P và L không có ý kiến gì. Sau đó, N điều khiển xe của P1 đi trước rồi đến P và L chở Đ1 về quán nhậu “Phong Mập”, bỏ T ở lại. Tại quán nhậu “Phong Mập”, L, Đ1, P sợ lấy xe mô tô của P1 sẽ phạm tội nên nói N mang xe đi trả cho P1. Nguyên, Đ1 mang xe của P1 quay lại quán nhậu “02 C"nhưng không thấy T ở đó nên mang về lại quán “Phong Mập”. Sau đó, L, Đ1, P nói N mang xe xuống bệnh viện đa khoa tỉnh B nên N đem xe mô tô biển số 54R4-3894 của P1 giấu tại bệnh viện đa khoa tỉnh B rồi cả nhóm giải tán.
Ngày 24/5/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Q kết luận: 01 xe mô tô hiệu Honda, biển số 54R4-3894; Số loại: @150, loại xe: hai bánh, được lắp thay thế dàn áo vỏ SH 150i màu xám, đã qua sử dụng, trị giá: 38.000.000 đồng.
Ngày 31/7/2023, Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống của Trung tâm pháp y tỉnh B kết luận: Dương Tấn P1 bị chấn thương gây sưng nề, bầm tụ máu mắt trái đã điều trị. Hiện mắt trái không có dấu vết. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Dương Tấn P1 là 0%. (BL: 345, 346 )
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2024/HS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định đã quyết định:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 157, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự, áp dụng cho các bị cáo;
Căn cứ khoản 1 Điều 168, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự, áp dụng cho các bị cáo;
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 170, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 55 Bộ luật hình sự, áp dụng cho các bị cáo;
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Khoa N, Phạm Hữu L, Trương Hoàng P, Nguyễn Văn Đ1 phạm các tội: “Bắt, giữ người trái pháp luật”; “Cưỡng đoạt tài sản”; “Cướp tài sản”.
- Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Phạm Hữu L 01 năm 03 tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”; 05 năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; 01 năm 06 tháng tù về tội ‘Cướp tài sản”, tổng hợp hình phạt của nhiều tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 07 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/5/2023.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn xử phát 03 bị cáo khác mức hình phạt từ 07 năm đến 09 năm 06 tháng tù, quyết định về phần án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.
Ngày 05/4/2024, bị cáo Phạm Hữu L kháng cáo xin giảm hình phạt đối với 02 tội danh “Bắt, giữ người trái pháp luật” và “Cưỡng đoạt tài sản”. Đình chỉ, miễn trách nhiệm hình sự về tội “Cướp tài sản”. Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên kháng cáo.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định đề nghị quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố. Do đó HĐXX có đủ căn cứ để kết luận:
Vào tối ngày 17/5/2023 và rạng sáng ngày 18/5/2023, Phạm Hữu L cùng với các bị cáo Trần Khoa N, Trương Hoàng P, Nguyễn Văn Đ1 có hành vi đánh, ép buộc anh Dương Tấn P1 và chị và Lê Thị Hồng T lên xe mô tô BKS 54R4-3894 để chở đi đến khu vực Đ đoạn trước quán B C thuộc P. Đ, TP .. Tại đây, các bị cáo N, L, P và Đ1 có hành vi la chửi, đánh anh P1, ép buộc anh P1 phải ký vào giấy nợ số tiền 210.000.000 đồng nhằm chiếm đoạt. Sau khi anh P1 ký vào giấy nợ, bị cáo P tiếp tục nắm cổ áo kéo và đánh vào mặt anh P1. Lợi dụng sơ hở, anh P1 bỏ chạy trốn, để lại xe mô tô BKS 54R4-3894 trị giá 38.000.000 đồng của P1. Thấy anh P1 bỏ chạy, cả nhóm N thống nhất chiếm đoạt xe mô tô của anh P1 rồi đem đi cất giấu.
Do đó, bản án sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Trần Khoa N, Phạm Hữu L, Trương Hoàng P, Nguyễn Văn Đ1 về các tội: “Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 170 Bộ luật Hình sự; tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự và tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo điểm đ khoản 2 Điều 157 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[2] Xét kháng cáo kháng của bị cáo Phạm Hữu L, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1] Về kháng cáo xin giảm hình phạt đối với 02 tội danh “Bắt, giữ người trái pháp luật” và “Cưỡng đoạt tài sản”, HĐXX xét thấy: Giữa bị cáo và các bị hại Dương Tấn P1, Lê Thị Hồng T không có mâu thuẫn gì với nhau và các bị hại cũng không có nợ tiền của bị cáo, nhưng khi nghe Trần Khoa N nói bị cáo ép xe anh Dương Tấn P1 để đòi tiền thì bị cáo không can ngăn mà làm theo. Khi thấy bị cáo N đánh anh P1, bị cáo hùa theo đánh anh P1 và còn buộc anh P1 trả nợ cho bạn bị cáo số tiền là 200.000.000đ, sau đó cùng với các bị cáo khác bắt, giữ anh P1 và chị T chở đến nơi khác để đòi nợ, trực tiếp viết giấy và cùng đồng phạm ép buộc anh P1 ký vào giấy nhận nợ do bị cáo viết sẵn nhằm chiếm đoạt. Hành vi do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm sức khoẻ, quyền sở hữu về tài sản, quyền tự do, dân chủ của người khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò vừa là người thực hành, vừa là người giúp sức với vai trò tích cực. Khi quyết định mức hình phạt, Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ, toàn diện các tình tiết giảm nhẹ, vai trò, nhân thân của bị cáo để xử phạt bị cáo mức hình phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”; 05 năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” là dưới mức khởi điểm của khung hình phạt mà bị cáo bị truy tố và tương xứng với tính chất nguy hiểm do hành vi của bị cáo gây ra. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào khác nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt đối với 02 tội danh “Bắt, giữ người trái pháp luật” và “Cưỡng đoạt tài sản” của bị cáo.
[2.2] Về kháng cáo xin đình chỉ, miễn hình phạt về tội “Cướp tài sản”, HĐXX thấy rằng: Bị cáo cùng đồng bọn có hành vi bắt giữ anh P1, chị T và trực tiếp đánh anh P1 làm cho anh P1 hoảng sợ, không còn khả năng chống trả. Khi anh P1 bỏ chạy bị cáo cùng đồng phạm đã chiếm đoạt xe mô tô của anh P1 có giá trị là 38.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe, tài sản của người khác một cách trái pháp luật, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng do lỗi cố ý và không thuộc một trong những căn cứ được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 29 Bộ luật Hình sự, nên HĐXX không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin đình chỉ, miễn hình phạt về tội “Cướp tài sản” của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm của TAND thành phố Quy Nhơn.
[3] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 157; khoản 1 Điều 168; điểm a khoản 3 Điều 170; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 55 Bộ luật hình sự;
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Hữu L, giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo.
1. Tuyên bố các bị cáo Phạm Hữu L phạm các tội: “Bắt, giữ người trái pháp luật”; “Cưỡng đoạt tài sản” và “Cướp tài sản”.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Phạm Hữu L 01 năm 03 tháng tù về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”; 05 năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; 01 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, tổng hợp hình phạt của nhiều tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 07 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/5/2023.
2. Về án phí: Bị cáo Phạm Hữu L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Văn Duy |
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Bình Định, ngày 29 tháng 11 năm 2021 |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi 8 giờ 50 phút ngày 26 tháng 11 năm 2021.
Tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định
Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng T3
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn N1; Ông Phan Minh D1.
Tiến hành nghị án vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 01/2021/TLPT-HSCTN ngày 04 tháng 10 năm 2021 đối với:
- Trần Thị Q, sinh năm 1988; nơi cư trú: khối P, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Kế toán.
- Ngô Văn H1, sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn M, xã P, TP ., tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không.
Đã bị TAND huyện Tây Sơn xử phạt về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 BLHS với hình phạt: Trần Thị Q 15 tháng tù, Ngô Văn H1 12 tháng tù.
Căn cứ các Điều 299, 326 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên Tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355 và điểm b khoản 1 Điều 358 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 32/2021/HS-ST ngày 25.6.2021 của Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn.
(Kết quả biểu quyết: 3/3)
- Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn để điều tra lại.
(Kết quả biểu quyết: 3/3)
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
(Kết quả biểu quyết: 3/3)
Nghị án kết thúc vào hồi 09 giờ 10 phút, ngày 26 tháng 11 năm 2021.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
N2
Bản án số 74/2024/HS-PT ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 74/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Hữu L phạm các tội: Bắt giữ người trái pháp luật, Cưỡng đoạt tài sản, cướp tài sản
