Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 07/6/2024

V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Anh Thư.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thu Vân

Bà Phạm Tú Nhi

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tổ Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vương – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 27/2024/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 01 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1984; nơi ĐKHKTT: thôn V, xã V, huyện A, tỉnh Nghệ An. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Bị đơn: Anh Cao Tiến C, sinh năm 1978; trú tại: Số E, đường M, tổ D +6, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày:

Chị N và anh C tự nguyện yêu nhau, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện A, tỉnh Nghệ An theo giấy chứng nhận kết hôn số 11 ngày 07 tháng 4 năm 2006.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh chị bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra tranh cãi. Anh C không chăm lo cho cuộc sống gia đình, không cùng chị N tạo lập kinh tế gia đình và chăm sóc giáo dục các con. Thu nhập của anh C sử dụng vào mục đích cá nhân. Hiện nay chị N và anh C đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau nữa. Chị N xác định không còn tình cảm với anh C nên yêu cầu được ly hôn với anh C.

Về con chung: Chị N và anh C có 02 con là Cao Tiến A, sinh ngày 24/9/2006 và Cao Tiến B, sinh ngày 02/01/2017. Chị N yêu cầu được nuôi con Cao Tiến B và đồng ý giao con Cao Tiến A cho anh Chính trực tiếp nuôi dưỡng. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Chị N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Tại bản tự khai và buổi hòa giải bị đơn anh Cao Tiến C trình bày:

Thống nhất với lời trình bày của chị N về thời gian kết hôn, con chung, tài sản chung và nghĩa vụ chung. Nguyên nhân mâu thuẫn do thời điểm đó cả hai còn trẻ, vợ có tính hướng ngoại nên anh C có lúc ghen. Trước yêu cầu của chị N anh C không đồng ý vì còn thương vợ con. Tuy nhiên, tại phiên tòa anh C đồng ý ly hôn với chị N.

Về con chung: Anh C đồng ý để chị N nuôi con Cao Tiến B và anh C nuôi con Cao Tiến A. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng dân sự:

[1.1] Chị N khởi kiện anh C yêu cầu được ly hôn, anh C hiện đang trú tại khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

[1.2] Chị N có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị N theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về hôn nhân: Chị N và anh C tự nguyện tìm hiểu đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện A, tỉnh Nghệ An theo giấy chứng nhận kết hôn số 11 ngày 07 tháng 4 năm 2006, do đó quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh C là hợp pháp.

[2.2] Quá trình tố tụng chị N xác định cuộc sống hôn nhân của vợ chồng không hạnh phúc, thường xuyên cãi nhau, nguyên nhân do không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung. Hiện nay vợ chồng đã sống ly thân, không còn ai quan tâm đến nhau nữa.

Xét thấy, mâu thuẫn của vợ chồng chị N và anh C đã trầm trọng, không còn quan tâm đến nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị N được ly hôn với anh C.

[2.3] Về con chung: Chị N và anh C có 02 con là Cao Tiến A, sinh ngày 24/9/2006 và Cao Tiến B, sinh ngày 02/01/2017. Chị N yêu cầu được nuôi con Cao Tiến B và đồng ý giao con Cao Tiến A cho anh Chính trực tiếp nuôi dưỡng. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, vợ chồng phải có trách nhiệm và nghĩa vụ với con chung. Hiện cháu Cao Tiến B đang sống cùng chị N, để cho cháu ổn định cuộc sống và việc học tập nên cần tiếp tục để chị N trực tiếp nuôi dưỡng cháu B. Đối với cháu Cao Tiến A hiện đang sống cùng anh C nên tiếp tục để anh Chính trực tiếp nuôi dưỡng cháu A. Mặt khác, tại phiên tòa, anh Chính thống nhất như ý kiến chị N nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[2.4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Chị N, anh C tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp.

[4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ :

- Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N đối với bị đơn anh Cao Tiến C về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con.

- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Cao Tiến C (theo giấy chứng nhận kết hôn số 11 do UBND xã V, huyện A, tỉnh Nghệ An cấp ngày 07 tháng 4 năm 2006).

- Về con chung: Giao cho anh Chính trực tiếp nuôi con Cao Tiến A, sinh ngày 24/9/2006 và giao cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi con Cao Tiến B, sinh ngày 02/01/2017. Chị N và anh C không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Chị N và anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Chị N phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai số 0001534 ngày 12/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. Bị đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Anh Thư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2024/HNGĐ-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 74/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vắng nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger