|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 74/2024/HNGĐ-ST Ngày: 06/5/2024 “V/v Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Ánh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Văn Te
Bà Phạm Thị Thu Trang
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Như Thắm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm tham gia phiên tòa: Ông Đào Văn Trong - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 111/2024/TLST- HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Huỳnh Văn H, sinh năm: 1991.
Địa chỉ: ấp H, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm: 1967.
Địa chỉ: ấp H, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre.
Tại phiên tòa, ông H có mặt, bà B vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Huỳnh Văn H trình bày:
Ông và bà B chung sống với nhau năm 2012, ngày 13/3/2017 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre. Hôn nhân tự nguyện. Sau kết hôn vợ chồng sinh sống hạnh phúc tại nhà của bà B đã có trước đây. Tháng 8/2023, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, nhiều vấn đề không hợp ý nhau và quan trọng là ông không còn tình cảm với bà B nữa, ông bà đã ly thân được 02 tháng, ông thuê nhà trọ sống riêng, không về nhà nữa, thời gian này mạnh ai nấy sống, không quan tâm nhau nên ông quyết định nộp đơn ly hôn. Nay ông yêu cầu Toà án giải quyết cho ông được ly hôn với bà B.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung: Khi về sống chung bà B, ông có đi làm kiếm tiền chung tay bà B cất một căn nhà tường kiên cố trên đất của bà B để chung sống. Khi ly hôn, ông để lại căn nhà này cho bà B (có con riêng và cháu của bà B đang sống cùng bà B), ông không yêu cầu Toà án giải quyết, phân chia tài sản này.
Về nợ chung: Không có.
Tại biên bản lấy lời khai và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là bà Nguyễn Thị B trình bày:
Bà thống nhất với ông H về thời gian chung sống, kết hôn. Tháng 9/2023 ông H đi làm, cặp bồ với người phụ nữ khác rồi nghe lời xúi giục của người đó về đòi ly hôn với bà, mỗi lần bà nhắc chuyện ông H với bồ ông H thì ông H bênh vực bồ của ông H về gây sự với bà, ông H còn cùng với bồ của ông H đi tìm thầy để làm bùa phép để bà chán nản bỏ ông H, ông H xách đồ đạc cá nhân đi dần, đến nay cũng gần hết. Khoảng 1 tháng nay, ông H không về nhà nữa mà đi ra nhà bồ của ông H sống chứ không có thuê nhà trọ sống, bà gọi điện ông H không được do bị chặn cuộc gọi. Nay ông H yêu cầu ly hôn thì bà không đồng ý ly hôn vì bà còn thương ông H.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung: Lúc chung sống với nhau, vợ chồng cùng nhau xây dựng được một căn nhà tường kiên cố trên đất riêng của gia đình bà có trước khi chung sống với ông H. Nhà này hiện bà, con riêng và cháu nội bà quản lý sử dụng. Ông H bỏ bà đi và có ý kiến là không tranh chấp, không yêu cầu chia tài sản này mà để lại cho bà sử dụng riêng nên bà cũng đồng ý, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm phát biểu ý kiến về tố tụng và nội dung:
* Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:
Trong thời gian chuẩn bị xét xử, Thẩm phán thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn chấp hành đúng quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
* Về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ các điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn H. Ông Huỳnh Văn H được ly hôn với bà Nguyễn Thị B.
- - Về con chung: Không có.
- - Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Nguyên đơn là ông H khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre giải quyết ly hôn với bị đơn là bà B - hiện đang cư trú tại xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
Bà B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà B.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về hôn nhân: Ông H, bà B tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận, bảo vệ.
Tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về “Tình nghĩa vợ chồng” có quy định:
1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.
Tòa án đã tiến hành hòa giải, động viên ông H, bà B hàn gắn, đoàn tụ nhưng ông H cương quyết xin ly hôn với bà B vì ông không còn tình cảm với bà B, ông đã không sống chung với bà B đến nay hơn 04 tháng. Chính bà B cho rằng: ông H không còn thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ bà như trước kia; không cùng bà chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
Như vậy, qua lời trình bày của các đương sự cũng đủ cơ sở xác định: tình trạng hôn nhân của ông H, bà B đã trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của ông H và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm là có căn cứ chấp nhận.
[2.2] Về con chung: Ông H, bà B khai không có con chung.
[2.3] Về tài sản chung: Ông H, bà B tự thỏa thuận, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[2.4] Về nợ chung: Ông H, bà B khai không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[2.5] Về án phí: Ông H phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn H. Ông Huỳnh Văn H được ly hôn với bà Nguyễn Thị B.
- Về con chung: Ông Huỳnh Văn H và bà Nguyễn Thị B không có con chung.
- Về tài sản chung: Ông Huỳnh Văn H và bà Nguyễn Thị B tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: Ông Huỳnh Văn H và bà Nguyễn Thị B khai không có.
- Về án phí: Ông Huỳnh Văn H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004759 ngày 07 tháng 3 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm.
- Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
THẨM Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Ánh |
Bản án số 74/2024/HNGĐ-ST ngày 06/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE về ly hôn
- Số bản án: 74/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: H và B ly hôn
