|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HOÁ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 74/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 05-9-2024
V/v: Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Đỗ Khắc Kiếm
- 2. Bà Nguyễn Thị Thưởng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Tố Quyên - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa: Bà Dương Thị Kim Chi - Kiểm sát viên
Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 293/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2024 về việc: Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 124/2024/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị G, sinh năm 1978 (có mặt)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1965 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Số nhà D Đoàn T, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện nay: SN BĐ, phường T, TP., tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị G trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện qua thời gian tìm hiểu, tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, có đăng ký kết hôn ngày 01/3/2004 tại UBND phường T, TP., tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống tại phường T. Quá trình chung sống những năm đầu vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh H chơi bời, gái gú, cầm cố đồ đạc, chửi bới vợ con, thỉnh thoảng anh H có đánh đập chị. Chị đã khuyên giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, đã bán nhà chia tài sản, chị về nhà ngoại sinh sống. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả, vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2024 đến nay không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Minh T, sinh ngày 28/11/2004. Hiện nay cháu T đã trưởng thành nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản: Chị G không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về công nợ: Chị G không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật đối với anh Nguyễn Văn H. Anh H đã nhận được thông báo thụ lý vụ án, anh H không có ý kiến gì. Anh H không đến Tòa án để tự khai cũng như tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải.
Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ do địa phương cung cấp thể hiện: Về hôn nhân: chị Lê Thị G và anh Nguyễn Văn H kết hôn năm 2004, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, TP .. Sau khi kết hôn anh chị chung sống tại số nhà D Đoàn T, phường T. Hiện nay anh, chị chuyển đến sống tại số nhà B Đ, phường T, TP .. Quá trình chung sống anh, chị chấp hành tốt pháp luật không có vấn đề gì hoặc mâu thuẫn lớn xảy ra. Tuy nhiên đến năm 2023 thì anh, chị hay xảy ra mâu thuẫn nhưng mâu thuẫn như thế nào thì chính quyền địa phương không nắm bắt được do anh, chị không báo cáo. Nay chị G có đơn đề nghị xin ly hôn anh Nguyễn Văn H thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: anh, chị có 01 con chung là Nguyễn Minh T, sinh ngày 28/11/2004. Hiện nay cháu T đã thành niên. Về tài sản, công nợ: chính quyền địa phương không nắm bắt được chị G, anh H có tài sản hay công nợ. Đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết.
Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Đề nghị Tòa án xử cho ly hôn với bị đơn, về con chung, về tài sản và công nợ chị G không yêu cầu giải quyết. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa ngày 21/8/2024 đã hoãn phiên tòa lần thứ 1 do bị đơn vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa trình bày ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đúng thủ tục tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành nghiêm quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình; khoản 4 Điều 147; Các Điều 227; 228; 271; 273; 278; 280 BLTTDS; Điều 6; Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Về hôn nhân: Chấp nhận đề nghị của chị Lê Thị G xin ly hôn anh Nguyễn Văn H.
Về con chung: Chị G và anh H có 01 con chung là Nguyễn Minh T, sinh ngày 28/11/2004. Hiện nay cháu T đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản và công nợ: Chị G và anh H không có tài sản, công nợ nên không xem xét.
Về án phí: Chị Lê Thị G phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Tranh chấp giữa nguyên đơn chị Lê Thị G và bị đơn anh Nguyễn Văn H là Tranh chấp về Ly hôn. Bị đơn có địa chỉ tại phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS.
[2]. Về nội dung:
- * Về hôn nhân: Chị Lê Thị G và anh Nguyễn Văn H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quá trình anh chị chung sống hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Đến đầu năm 2024 thì chị G về nhà mẹ đẻ sinh sống. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành giao thông báo về việc thụ lý vụ án cho anh H, sau khi nhận Thông báo thụ lý vụ án của Tòa án, anh H không chấp hành các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án và cũng không đến Tòa án để tham gia phiên hòa giải nên Tòa án không tiến hành phiên hòa giải được. Điều đó chứng tỏ anh H không có thiện chí để vợ chồng đoàn tụ. Việc chị G trình bày nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng và thực trạng hôn nhân phù hợp với xác minh tình trạng hôn nhân chị G, anh H tại địa phương. Như vậy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận cho chị G được ly hôn anh H là phù hợp.
- * Về con: Chị G và anh H có 01 con chung là Nguyễn Minh T, sinh ngày 28/11/2004. Hiện nay cháu T đã trưởng thành, chị G không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
- * Về tài sản: Chị G không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
- * Về công nợ: Chị G không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[3]. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, chị Lê Thị G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 51; 56; 57 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 271; 273; 278; 280 của BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị G được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
- Về con chung: Công nhận cháu Nguyễn Minh T, sinh ngày 28/11/2004 là con chung của chị G, anh H. Hiện nay cháu T đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.
- Về tài sản, công nợ: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Lê Thị G phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số 0BLTU/23/0001634 ngày 17/6/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Chị G đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án niêm yết. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Liên |
Bản án số 74/2024/HNGĐ-ST ngày 05/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HOÁ về ly hôn
- Số bản án: 74/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
