|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 74/2023/HS-ST Ngày: 04/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
— Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyên Tùng;
Thẩm phán phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hùng;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Thái, ông Phan Đại Thắng và ông Đinh Công Danh.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký viên, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Lê Trung Nghĩa – Kiểm sát viên Trung cấp.
Vào ngày 04 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên mở phiên tòa công khai, để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 71/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Tô Minh T, sinh ngày 11 tháng 11 năm 1987; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tô Minh Q, sinh năm 1948 và bà Đoàn Thị H, sinh năm 1955; có vợ Huỳnh Thị L, sinh năm 1986 và 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 29/12/2022, bị Công an huyện P, tỉnh Phú Yên phạt vi phạm hành chính 6.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích”, đã nộp phạt; tạm giam từ ngày 08/02/2023 đến ngày 28/9/2023 thay đổi biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh; bị cáo tại ngoại; có mặt.
Người bào chữa của bị cáo Tô Minh T: Ông Nguyễn N – Luật sư, Văn phòng L1, thuộc Đoàn luật sư tỉnh P; có mặt.
Bị hại: Tô Thị T1, sinh năm 1958. Nơi cư trú: Thôn B, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Thị Bảo N1, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Thôn L, xã A, thành phố T, Phú Yên; vắng mặt.
- Huỳnh Công T2 (tên gọi khác: Tý C), sinh năm 1981. Nơi cư trú: B N, Phường A, thành phố T, Phú Yên; vắng mặt.
- Huỳnh Thị Kim Anh T3 (tên gọi khác: Út C1), sinh năm 1976. Nơi cư trú: 935/20/32/8/4 Huỳnh Tấn P, khu phố B, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
- Trần Minh T4, sinh năm 1972. Nơi cư trú: Khu phố Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
- Lê S, sinh năm 1951. Nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
- Huỳnh Thị L, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện P, Phú Yên; có mặt.
Người làm chứng:
- Hồ Thị K, sinh năm 1982. Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; có mặt.
- Nguyễn Ngọc K1, sinh năm 1984. Nơi cư trú: Thôn B, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đầu năm 2022, do làm ăn thua lỗ nên Tô Minh T nợ tiền của nhiều người. Tháng 3/2022, thông qua mạng xã hội, T biết anh Nguyễn Ngọc K1 đang cần chuyển nhượng 60ha đất rừng trồng keo, trong đó 30ha có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và 30ha không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với giá 8.000.000.000đ. T gọi điện thoại cho anh K1 hỏi mua, anh K1 có gửi hình 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02146 và CH01948 cho T xem và dẫn T đi xem đất để T làm môi giới kinh doanh nhưng T không môi giới được cho ai. Khoảng giữa tháng 4/2022, T biết bà Tô Thị T1 đang có nhu cầu nhận chuyển nhượng đất rẫy. Để có tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân, T đưa ra thông tin gian dối rằng Trường V nhận chuyển nhượng 60ha đất rừng trồng keo tại thôn B, xã X, thị xã S, trong đó có 30ha có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và 30ha chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đồng thời gửi hình 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà anh K1 đã gửi qua cho bà T1 rồi dẫn bà T1 đi xem đất. Bà T1 tin diện tích đất trên là của T nên đồng ý nhận chuyển nhượng 14ha đất rừng trồng keo trong 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên với giá 260.000.000đ/ha, tổng số tiền là 3.640.000.000đ và hẹn ngày 09/5/2022 làm hợp đồng đặt cọc. Chiều ngày 09/5/2022, bà T1 và T gặp nhau tại quán C3 thuộc thị xã S, tỉnh Phú Yên lập hợp đồng đặt cọc số tiền 500.000.000đ, hẹn đến ngày 09/6/2022 sẽ làm thủ tục chuyển nhượng cho bà T1. Sau khi ký Hợp đồng đặt cọc, bà T1 giao 500.000.000đ cho T, T sử dụng trả nợ và tiêu xài cá nhân. Đến ngày 09/6/2022, bà T1 yêu cầu T làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng T đưa ra nhiều lý do cố tình trốn tránh không thực hiện. Qua tìm hiểu, bà
T1 biết diện tích đất trên không phải của T, nhiều lần yêu cầu T trả tiền nhưng T không trả nên làm đơn tố giác gửi Cơ quan điều tra giải quyết.
Tại Bản Cáo trạng số: 75/CT-VKSPY-P1 ngày 18/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Tô Minh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điểm a, Khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- - Bị cáo Tô Minh T vẫn khai nhận tội như đã khai tại Cơ quan điều tra, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố là đúng.
- - Bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều khai về tình tiết vụ án như nội dung Cáo trạng đã nêu.
- - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung Cáo trạng. Sau khi phân tích hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Tô Minh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Về Hình phạt:
Áp dụng Điểm a, Khoản 4 Điều 174; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự; phạt bị cáo Tô Minh T từ 09 năm đến 10 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian đã tạm giam trước từ ngày 08/02/2023 đến ngày 28/9/2023.
Về Xử lý vật chứng:
Áp dụng Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án: 01 (một) điện thoại di động loại cảm ứng, mặt sau có dòng chữ Galaxy thu giữ của bị cáo Tô Minh T.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo Tô Minh T bồi thường toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt cho bị hại, nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết.
Bị cáo Tô Minh T phải chịu án phí và được quyền kháng theo quy định pháp luật.
Luật sư Nguyễn N bào chữa cho bị cáo Tô Minh T, đề nghị Hội đồng xét xử, phạt bị cáo thấp hơn mức án mà Kiểm sát viên đề nghị.
Trong phần đối đáp, Kiểm sát viên không nhất trí với lời đề nghị của Người bào chữa, giữ nguyên quan điểm. Bị cáo nói lời sau cùng, xin lỗi bị hại và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không bị khiếu nại, việc điều tra, thu thập chứng cứ của Cơ quan điều tra đã được thực hiện đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định, nên các chứng cứ thu thập được đều đảm bảo giá trị chứng minh và hợp pháp.
[1.2] Mặc dù tại phiên tòa, một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt, nhưng những người này đều đã có lời khai tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án và không gây trở ngại cho việc xét xử; do đó, chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, bị cáo, bị hại; căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
[2] Sau khi tổng hợp, kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện tất cả chứng cứ đã thu thập được về vụ án, thấy: Lời khai nhận tội của bị cáo Tô Minh T tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu là chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Từ tháng 4 đến tháng 5 năm 2022, Tô Minh T đưa ra thông tin gian dối có 60ha đất rừng trồng cây keo ở thôn B, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; bà Tô Thị Thanh t thật đặt cọc cho T số tiền 500.000.000đ, để nhận chuyển nhượng một phần trong diện tích đất trên, T đã chiếm đoạt tiêu xài cá nhân. Nên bản Cáo trạng số: 75/CT-VKSPY-P1 ngày 18/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên, truy tố bị cáo Tô Minh T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điểm a, Khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.
[3] Hành vi của bị cáo Tô Minh T đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội ở địa phương; bản thân bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích”, nhưng không tích cực sửa chữa lỗi lầm lại tiếp tục phạm tội; do đó người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử, phạt bị cáo mức án thấp hơn mức đề nghị của Kiểm sát viên là không thỏa đáng, nên không chấp nhận; mà chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên để xử phạt nghiêm. Tuy nhiên, bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền 500.000.000đ cho bị hại, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; mặt khác bị cáo có bác ruột là người có công với cách mạng, nên xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; đồng thời áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt cho phù hợp.
[4] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị cáo Tô Minh T đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại số tiền 500.000.000đ. Bị hại Tô Thị T1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường khoản thiệt hại nào khác, nên Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết là có căn cứ chấp nhận.
[5] Về xử lý vật chứng: 01 (một) điện thoại di động loại cảm ứng, mặt sau có dòng chữ Galaxy thu giữ của bị cáo Tô Minh T. Bị cáo Tô Minh T còn phải thi hành phần án phí, nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên áp dụng Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Vật chứng có đặc điểm như mô tả tại Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 20/10/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P và Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.
[6] Về án phí: Bị cáo Tô Minh T bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[7] Nguyễn Thị Bảo N1 tố giác Tô Minh T thông qua việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt của N1 200.000.000đ. Quá trình điều tra xác định T nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Lê S sau đó chuyển nhượng lại cho N1, tuy nhiên do ông S chưa hoàn tất thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất để chuyển nhượng cho T nên T chưa hoàn tất thủ tục chuyển nhượng lại cho N1, là giao dịch dân sự.
[8] Tháng 3/2020, Tô Minh T thuê xe ô tô biển số 51F-336.23 của Huỳnh Công T2 (được Huỳnh Thị Kim Anh T3 là chủ xe giao quản lý, sử dụng). Ngày 07/5/2021, T cầm cố xe ô tô trên cho Trần Minh T4 lấy số tiền 170.000.000 đồng, anh T2 và chị T3 biết và đồng ý cho T cầm cố xe, hàng tháng T vẫn trả tiền thuê xe cho anh T2 theo đúng thoả thuận. Hiện tại, anh T2 và chị T3 đã nhận lại xe và không có yêu cầu gì. Do đó, hành vi nêu trên của T không cấu thành tội phạm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Tô Minh T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
1. Về hình phạt:
Áp dụng Điểm a, Khoản 4 Điều 174; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự;
Phạt: Bị cáo bị cáo Tô Minh T – 09 (C2) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án; nhưng được trừ thời gian đã tạm giam từ ngày 08/02/2023 đến ngày 28/9/2023.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án: 01 (một) điện thoại di động loại cảm ứng, mặt sau có dòng chữ Galaxy thu giữ của bị cáo Tô Minh T.
Vật chứng có đặc điểm như mô tả tại Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 20/10/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P và Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.
3. Về án phí:
Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Tô Minh T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo:
Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai.
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Việt Hùng |
Võ Nguyên Tùng |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Nguyên Tùng |
Bản án số 74/2023/HS-ST ngày 04/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 74/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN - HSST -TÔ MINH TR - Lừa đảo CĐTS - CT TÙNG
