Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHỤNG HIỆP

TỈNH HẬU GIANG

Bản án số:74/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 04-06-2024

V/v xin ly hôn, nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Ngọc Thanh Hà

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thế Tự.

2. Ông Nguyễn Thành Quyến

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Công Trận – Thẩm tra viên tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.

Ngày 04 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 192/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 03 năm 2024 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa ván ra xét xử số 79/2024/QĐXX – ST, ngày 02 tháng 05 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 55/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 21 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự giữa các đương sự:

-Nguyên đơn Chị Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1984; Địa chỉ: ấp T, xã L, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1983; Địa chỉ: ấp T, xã L, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:

Theo khởi kiện nguyên đơn trình bày: Vợ chồng anh chị quen biết và yêu nhau vào năm 2005 sau đó được sự chấp thuận của gia đình hai bên anh chị có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã L, huyện P. Đến đầu năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là sau thời gian chung sống hai vợ chồng không còn tình cảm với nhau, không còn quan tâm chăm sóc nhau, cuộc sống vợ chồng không hòa hợp cho nên vợ chồng đã ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Từ lúc ly thân đến nay vợ chồng cũng không có gặp nhau để hàn gắn, tình cảm không còn nên yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn P.

Về con chung: Quá trình chung sống có 02 con chung tên Nguyễn Trọng P1, sinh ngày 10/4/2006 (nam) và Nguyễn Thị Mỹ N1, sinh ngày 27/9/2008 (nữ. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi cháu N1 còn cháu P1 đã trưởng thành, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có

Về nợ chung: Không có.

Bị đơn không có đến Tòa án nên không có lời trình bày.

Cháu Nguyễn Thị Mỹ N1 quá trình giải quyết vụ án có nguyện vọng sống với mẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: anh Diệp V P2 có hộ khẩu thường trú tại xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.

[2] Về quan hệ pháp luật: chị Nguyễn Thị Kim N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Văn P. Căn cứ quy định tại Điều 51, Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình và điểm a khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

[3] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 288 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn

[4] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim N và anh Nguyễn Văn P đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P,tỉnh Hậu Giang và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 20/9/2006, nên quan hệ hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp. Về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, chị N trình bày là do bị đơn không quan tâm đến đời sống gia đình, không chăm sóc gia đình, thường xuyên nhậu nhẹt và đánh vợ dẫn đến hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng đã hàn gắn nhiều lần nhưng không thành. Xét thấy, trong thời kỳ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn đã phát sinh nhiều bất đồng, mâu thuẫn dẫn đến nguyên đơn khẳng định không còn tự nguyện trong xây dựng quan hệ hôn nhân với bị đơn, không thể tiếp tục sống chung được nữa. Thời gian vợ chồng không sống chung là từ năm 2017 cho đến nay nhưng cả hai không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do vậy, có cơ sở để cho rằng quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn nếu tiếp tục sẽ dẫn đến mục đích hôn nhân không đạt được do đã có sự mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Căn cứ Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Con chung: Xét yêu cầu xin nuôi con của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng từ lúc ly thân đến nay cháu Nguyễn Thị Mỹ N1, sinh ngày 27/9/2008 (nữ) sống chung với nguyên đơn và hiện tại cuộc sống của các cháu đã ổn định, trong bản tự khai cháu, để đảm bảo cho sự phát triển tâm sinh lý, tránh xáo trộn cuộc sống của cháu Nguyễn Thị Mỹ N1 có nguyện vọng sống chung với nguyên đơn nên cần tiếp tục ổn định cho nguyên đơn được tiếp tục nuôi con, do đó yêu cầu xin được nuôi con của nguyên đơn là hợp lý nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Do nguyên đơn không yêu cầu cấp dưỡng nên bị đơn chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Dành quyền thăm nom chăm sóc giáo dục con chung cho anh Nguyễn Văn P, không ai có quyền cản trở.

[6] Về tài sản chung: Không có

[7] Nợ chung: Không có.

[8] Án phí Hôn nhân và Gia đình: Nguyên đơn phải nộp 300.000 đồng được khấu trừ từ 300.000 đồng tạm ứng án phí của nguyên đơn thành án phí

Các đương sự được quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

- Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 59, 81, 82, 83, 84, 107 của Luật Hôn nhân và gia đình

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị Kim N.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim N được ly hôn anh Nguyễn Văn P.

- Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kim N được trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Thị Mỹ N1, sinh ngày 27/9/2008 (nữ). Do nguyên đơn không yêu cầu cấp dưỡng nên bị đơn chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Dành quyền thăm nom chăm sóc giáo dục con chung cho anh Nguyễn Văn P không ai có quyền cản trở.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.

- Về án phí: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0006569 ngày 14/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.

Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - VKSND H Phụng Hiệp;
  • - Chi cục THADS H Phụng Hiệp;
  • - UBND xã nơi ĐKKH;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đặng Ngọc Thanh Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2024/HNGĐ-ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG về xin ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 74/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger