Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ MỸ HÀO

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2023/HSST.

Ngày: 03/11/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO - TỈNH HƯNG YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Thế Dương.

- Các Hội thẩm nhân dân: 1- Ông Trần Xuân Sơn.

2- Bà Trịnh Thị Thanh Thuỷ.

Thư ký phiên toà: Ông Phạm Đăng Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Chung - Kiểm sát viên.

Ngày 03/11/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 67/2023/TLST-HS ngày 06/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2023/QĐXXST-HS ngày 24/10/2023 đối với bị cáo:

* Võ Văn L, Sinh năm 1969 tại phường P, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; Nơi cư trú: tổ dân phố T, phường P, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Họ và tên cha: Võ Tấn C (đã chết); Họ và tên mẹ: Đỗ Thị L1; Có Vợ: Vũ Thị N và có 02 con; Tiền sự, tiền án: Không;

Nhân thân: - Ngày 05/10/2004 bị Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên xử phạt 07 năm tù giam về tội “Cướp tài sản”.

- Ngày 10/8/2010 bị Toà án nhân dân huyện Mỹ Hào xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”.

- Ngày 14/8/2013 bị Toà án nhân dân huyện Mỹ Hào xử phạt 09 năm tù về tội “Cướp tài sản” (Thi hành xong hình phạt tù ngày 14/7/2020).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/7/2023, chuyển tạm giam từ ngày 29/7/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam thuộc Công an tỉnh H. (Bị cáo có mặt tại phiên toà).

* Người bị hại:

- Anh Trương Ngọc K, Sinh năm 1983 (Vắng mặt).

- Chị Đỗ Thị Á, Sinh năm 1985 (Vắng mặt).

Đều đăng ký HKTT: thôn X, xã X, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.

Đều có chỗ ở: tổ dân phố Đ, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Việt C1, Sinh năm 1989 (Vắng mặt).

Địa chỉ: tổ dân phố T, phường D, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ, ngày 24/7/2023, Võ Văn L một mình đi bộ từ nhà đến khu vực phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên để xem có tài sản của ai sơ hở thì sẽ trộm cắp. L vào cửa hàng K1 của gia đình anh Trương Ngọc K, sinh năm 1983 tại tổ dân phố Đ, phường B, thị xã M. Lúc này trong cửa hàng có chị Đỗ Thị Á, sinh năm 1985 là vợ của anh K, L có hỏi chị Á “anh K đi đâu”, chị Á trả lời: “anh K nhà cháu vừa đưa cháu nhỏ đi lớp, chú ngồi uống nước, nhà cháu về bây giờ”, sau đó chị Á có pha nước mời L uống nước. L ngồi uống nước đợi anh K một lúc thì anh K đi xe đạp điện sơn màu đen, loại 133M, khung xe có dán tem mác chữ “Alpha bike” về cửa hàng. Anh K dựng xe ở trong cửa hàng và đi vào ngồi uống nước cùng với L và để chìa khóa xe trên mặt bàn. L lấy lý do hỏi mua máy bơm nước cũ của anh K thì anh K trả lời: “ở chỗ cháu không có máy cũ, chỉ bán máy bơm mới và có bảo hành”. L thấy anh K để chìa khóa xe đạp điện ở trên mặt bàn uống nước nên nảy sinh ý định sẽ lấy trộm chiếc xe đạp điện mà anh K vừa đi về. Lợi dụng lúc anh K quay mặt vào phía bên trong nhà không quan sát được phía trên mặt bàn, L đã lấy chiếc chìa khoá xe đạp điện nói trên và cầm ở trong lòng bàn tay phải của mình rồi bảo anh K: “chú xuống dưới kia một tí” rồi đứng dậy đi ra phía ngoài cửa hàng. Khi đó anh K vẫn ngồi ở bàn uống nước nhưng quay mặt vào phía trong nhà. L liền tiến lại gần vị trí chiếc xe đạp điện và dùng tay phải cầm chìa khoá vừa lấy trên mặt bàn uống nước cắm vào ổ khoá khởi động xe rồi điều khiển xe đi đến cửa hàng K1 “Cường Red B” thuộc tổ dân phố T, phường D, thị xã M, tỉnh Hưng và bán cho chủ cửa hàng là anh Nguyễn Việt C1, sinh năm 1989, hộ khẩu thường trú tổ dân phố T, phường D, thị xã M được 1.700.000đ (Một triệu bảy trăm nghìn đồng). Khi bán xe, anh C1 có hỏi L về nguồn gốc chiếc xe trên thì L trả lời là của L. Toàn bộ số tiền bán xe L đã mua ma túy loại Heroin và sử dụng hết.

Ngày 27/7/2023, anh Trương Ngọc K có đơn trình báo Công an phường B về sự việc bị trộm cắp tài sản và giao nộp dữ liệu camera an ninh ghi lại hình ảnh bị trộm cắp chiếc xe đạp điện. Cùng ngày, L nhận thấy không giấu được việc trộm cắp tài sản của mình nên L đã đến cửa hàng để xin chuộc lại chiếc xe đạp điện đã bán cho anh C1 trước đó. Anh C1 đồng ý cho L chuộc lại bằng với giá 1.700.000đ (Một triệu bảy trăm nghìn đồng). Sau đó L đến Công an phường B để đầu thú và giao nộp chiếc xe đạp điện đã trộm cắp của anh K cho Cơ quan Công an quản lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu thập tài liệu chứng cứ, quản lý tài sản, dữ liệu liên quan và ra yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc xe đạp điện nêu trên.

Tại bản Kết luận định giá số 30 ngày 29/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản thị xã M kết luận: 01 (một) chiếc xe đạp điện màu đen, loại 133M, trên khung xe có dán tem mác chữ “Alpha bike” có giá trị tại thời điểm ngày 24/7/2023 là 3.200.000đ.

Quá trình điều tra xác định chiếc xe đạp điện sơn màu đen, loại 133M, trên khung xe có dán tem mác chữ “Alpha bike” là tài sản hợp pháp của anh K, ngày 29/8/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Trương Ngọc K, anh K đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì.

Đối với anh Nguyễn Việt C1, quá trình điều tra đã xác định khi mua chiếc xe đạp điện của L anh C1 không biết chiếc xe đạp điện mà L bán là tài sản do trộm cắp mà có nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với việc L khai mua ma túy (Heroine) và sử dụng, ngoài lời khai của L không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên chưa đủ căn cứ để xử lý.

Quá trình điều tra Võ Văn L đã được xem lại video ghi lại hình ảnh trộm cắp tài sản tại cửa hàng K1 và xác định chính L là người thực hiện hành vi trộm cắp trên. Tại cơ quan điều tra L đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 67/CT-VKSMH ngày 05/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào đã truy tố bị cáo Võ Văn L về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay: Vắng mặt người bị hại là anh Trương Ngọc K, chị Đỗ Thị Á; Vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Việt C1;

Bị cáo L và Đại diện Viện kiểm sát đều đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án vì những người vắng mặt đều đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ nên việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án.

Bị cáo L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào duy trì công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố bị cáo L và đề nghị với Hội đồng xét xử:

  • * Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn L phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  • * Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự.
  • * Xử phạt: Bị cáo Võ Văn L từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù, tính từ ngày tạm giữ 27/7/2023.
  • * Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
  • * Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã giao nộp tài sản chiếm đoạt để trả lại cho người bị hại, người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì nên đề nghị không xem xét.
  • * Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  • * Bị cáo Võ Văn L không tranh luận gì về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã M, Điều tra viên, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện nên đều hợp pháp.

2- Lời khai nhận của bị cáo Võ Văn L trong quá trình điều tra và tại phiên toà phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ nên có đủ căn cứ kết luận: "Với động cơ, mục đích chiếm đoạt tài sản, khoảng 9 giờ ngày 24/7/2023 tại cửa hàng K1 của anh Trương Ngọc K ở tổ dân phố Đ, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên, Võ Văn L đã có lợi dụng sơ hở, lén lút trộm cắp 01 chiếc xe đạp điện của anh Trương Ngọc K, trị giá là 3.200.000đ (Ba triệu, hai trăm nghìn đồng) sau đó L đã đến cơ quan Công an đầu thú”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào đã truy tố bị cáo Võ Văn L về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

3- Hành vi phạm tội của bị cáo Võ Văn L là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo phạm tội độc lập, tội phạm đã hoàn thành. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên buộc phải nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi, bị cáo đã không chịu lao động, rèn luyện, thay vào đó là đi chiếm đoạt tài sản của người khác với mục đích tư lợi cá nhân, đem đi bán lấy tiền mua ma tuý (Heroine) rồi sử dụng hết. Hành vi này của bị cáo gây bất bình trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự an ninh tại địa phương. Hơn nữa bị cáo là người có nhân thân rất xấu: "Ngày 05/10/2004 bị Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên xử phạt 7 năm tù giam về tội Cướp tài sản; Ngày 10/8/2010 bị Toà án nhân dân huyện Mỹ Hào xử phạt 2 năm 6 tháng tù về tội Cướp giật tài sản; Ngày 14/8/2013 bị Toà án nhân dân huyện Mỹ Hào xử phạt 9 năm tù về tội Cướp tài sản (thi hành xong hình phạt tù ngày 14/7/2020). Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo đã thực hiện, để tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo sớm trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, đầu thú tại cơ quan công an và tự nguyện giao nộp lại tài sản đã trộm cắp để khắc phục hậu quả cho người bị hại. Hội đồng xét xử xét thấy, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, sẽ xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

4- Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh và tại phiên toà có đủ căn cứ xác định bị cáo Võ Văn L hiện tại đang bị giam giữ, không có tài sản hay thu nhập gì khác nên Hội đồng xét xử sẽ miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

5- Về Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo đã giao nộp tài sản chiếm đoạt để trả lại cho người bị hại, đến nay người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xét.

Đối với anh Nguyễn Việt C1, quá trình điều tra đã xác định khi mua chiếc xe đạp điện của bị cáo anh C1 không biết chiếc xe đạp điện mà bị cáo bán là tài sản do trộm cắp mà có nên không có căn cứ để xử lý đối với anh C1 là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với việc bị cáo L khai mua ma túy (Heroine) và sử dụng, ngoài lời khai duy nhất của L không còn tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh nên chưa đủ căn cứ để xử lý đối với L về hành vi này là phù hợp.

6- Về án phí: Bị cáo Võ Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • * Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự.
  • * Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn L phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  • * Xử phạt: Bị cáo Võ Văn L 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù, tính từ ngày tạm giữ 27/7/2023.
  • * Về án phí: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Võ Văn L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  • * Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, Toà đã báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã Mỹ Hào;
  • - Cơ quan CSĐT-CA thị xã Mỹ Hào;
  • - Cơ quan T.H.A HS-CA thị xã Mỹ Hào;
  • - Chi cục T.H.A DS thị xã Mỹ Hào;
  • - Phòng KTNV và T.H.A-Tòa án tỉnh Hưng Yên;
  • - Bị cáo;
  • - Người bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HS vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trương Thế Dương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2023/HSST ngày 03/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO TỈNH HƯNG YÊN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 74/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Văn L - TCTS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger