TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 74/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 02-8-2024
V/v “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Vân;
Bà Nguyễn Xuân Thuỷ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huệ Thư – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 95/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2024 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1989. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh.
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Ý N, sinh năm 1993. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh.
Anh H, chị N vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 19-02-2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn – anh Nguyễn Văn H trình bày:
A và chị Nguyễn Thị Ý N chung sống với nhau 2010 và có đăng ký kết hôn vào ngày 23-8-2011 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Anh và chị N1 chung sống đến cuối năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do chị N đi làm có tình cảm với người khác bỏ nhà đi từ cuối năm 2023 đến nay. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc, anh yêu cầu Toà án giải quyết cho anh được ly hôn với chị N.
Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thành N2, sinh ngày 11-5-2011 và Nguyễn Duy K, sinh ngày 08-3-2018. Hiện tại hai con của anh đang do vợ và mẹ vợ chăm sóc nuôi dưỡng. Anh đồng ý giao hai con chung cho chị N nuôi dưỡng, anh cấp dưỡng nuôi hai con chung số tiền 2.000.000 đồng/tháng (1.000.000 đồng/tháng/một con chung).
Về tài sản chung: Trước đây anh có làm đơn yêu cầu chia tài sản chung là Phần đất diện tích 49,2m² và một căn nhà cấp 4 trên đất, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS05814 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp ngày 28-02-2017 cho Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị Ý N đứng tên. Nhưng nay anh xin rút lại yêu cầu, không yêu cầu giải quyết về tài sản chung.
Về nợ chung: Anh và chị N có nợ Ngân hàng N3 số tiền 100.000.000 đồng, Ngân hàng không yêu cầu giải quyết trong vụ án này, anh cũng không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn – chị Nguyễn Thị Ý N vắng mặt, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho chị N theo đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng chị N vắng mặt không có văn bản trình bày ý kiến.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa:
- - Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nguyên đơn chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa chị N đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do, anh H vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điệu 227, khoản 1,3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng anh H, chị N.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh H, chị N tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn ngày 23-8-2011 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Do đó, hôn nhân giữa anh H, chị N là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Xét yêu cầu xin ly hôn của anh H thì thấy rằng, tại biên bản xác minh ngày 12/4/2024 và ngày 07/6/2024 thể hiện anh H và chị N ly thân nhau từ đầu năm 2024 cho đến nay, hiện chị N vắng mặt tại địa phương (bút lục 31, 56). Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình...". Tuy nhiên, anh chị lại không cùng gắn bó, sống chung với nhau, không quan tâm chăm sóc giúp đỡ nhau, không thực hiện quyền nghĩa vụ của vợ chồng. Hội đồng xét xử nhận thấy, tình cảm vợ chồng giữa anh chị không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh H đối với chị N.
[2.3] Về nuôi con chung: Con chung hiện đang sống chung với chị N và có nguyện vọng sống chung với mẹ, anh H đồng ý giao con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, anh đồng ý cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng/02 con chung. Bà L mẹ ruột chị N cũng xác định con chung của chị N, anh H đang sống chung với chị N, chị N cũng yêu cầu được nuôi dưỡng con chung. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy giao con chung cho chị N chăm sóc, nuôi dưỡng và anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/tháng/hai con chung là phù hợp.
[2.4] Về tài sản chung: Nguyên đơn anh H tự nguyện rút yêu cầu chia tài sản chung, do đó Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu trên của anh H là phù hợp.
[2.5] Nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[3] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4] Về án phí: Anh Nguyễn Văn H phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 147, 227, 228, 217, 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn H đối với chị Nguyễn Thị Ý N về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Anh Nguyễn Văn H và chị Nguyễn Thị Ý N được ly hôn.
2. Về con chung: Anh Nguyễn Văn H có trách nhiệm giao cho chị Nguyễn Thị Ý N được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung tên Nguyễn Thành N2, sinh ngày 11-5-2011 và Nguyễn Duy K, sinh ngày 08-3-2018. Anh Nguyễn Văn H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung Nguyễn Thành N2, Nguyễn Duy K 2.000.000 đồng/tháng (1.000.000 đồng/tháng/01 con chung) cho đến khi cháu N2, cháu K đủ 18 tuổi, tính từ ngày 01-9-2024.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Đình chỉ yêu cầu giải quyết chia tài sản chung khi ly hôn của anh Nguyễn Văn H. Anh H được quyền khởi kiện lại yêu cầu chia tài sản theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
4. Nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Về án phí: Anh Nguyễn Văn H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, tổng cộng là 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0008892 ngày 27-02-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành. Anh Nguyễn Văn H còn phải nộp số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thúy Phượng |
Bản án số 74/2024/HNGĐ-ST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 74/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
