Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 74/2024/HS-ST

Ngày: 02 - 5 - 2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Huỳnh Minh Trí.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Đông.

Ông Trần Minh Trung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Viết Xuân Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Điền - Kiểm sát viên.

Vào các ngày 23 tháng 4 và ngày 02 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 275/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐXXST-HS ngày 19/01/2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Mai Minh Đ, sinh năm 1991, tại: Bình Dương. Nơi ĐKHKTT: số 288/29/4, đường H, khu phố G, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Viết T và bà Nguyễn Thị Thúy H; bị cáo có vợ và 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 24/4/2023 và tạm giam cho đến ngày 05/5/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp đặt tiền bảo đảm; đến ngày 27/12/2023 bị bắt giam và tạm giam cho đến nay, có mặt.

2. Họ và tên: Phan Tiến Đ1, sinh năm 1996, tại: Bình Dương. Nơi ĐKHKTT: Tổ E, khu phố A, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Thế N và bà Huỳnh Tú K; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 24/4/2023 và tạm giam cho đến ngày 05/5/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp đặt tiền bảo đảm, có mặt.

3. Họ và tên: Phạm Minh T1, sinh năm 2003, tại: Tuyên Quang. Nơi ĐKHKTT: Tổ D, khu phố B, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn P và bà Huỳnh Thị D; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 24/4/2023 và tạm giam cho đến ngày 11/5/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp đặt tiền bảo đảm, có mặt.

4. Họ và tên: Nguyễn Văn T2, sinh năm 1994, tại: Thanh Hóa. Nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn N1 và bà Nguyễn Thị L; bị cáo có vợ và 02 người con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 24/4/2023 và tạm giam cho đến nay; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Bà Nguyễn Thị Như Q, sinh năm 2000; trú tại: Tổ A, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Bà Lê Thị Trúc N2, sinh năm 2005; trú tại: Ấp T, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  3. Ông Trần Vũ Huy H1, sinh năm 1990; trú tại: Số B, Tổ B, khu phố C, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
  4. Ông Nguyễn Minh T3, sinh năm 1991; trú tại: Số C, đường H, khu phố D, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Ngọc M, sinh năm 2004.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ ngày 24/4/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế-Ma túy Công an thành phố T chủ trì và phối hợp với Công an phường P tiến hành kiểm tra hành chính căn hộ số 311 thuộc chung cư P, địa chỉ tại khu phố F, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì phát hiện Mai Minh Đ, Phan Tiến Đ1, Phạm Minh T1 và Nguyễn Văn T2 cùng với các đối tượng là Lê Thị Trúc N2, Nguyễn Thị Ngọc M, Nguyễn Thị Như Q, Trần Vũ Huy H1 và Nguyễn Minh T3, đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Qua làm việc, Đ, Đ1, T1 và T2 khai nhận hành vi cùng nhau hùn tiền mua ma túy và rủ các đối tượng N2, Q, H1 và T3 cùng sử dụng ma túy nên lực lượng Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Mai Minh Đ, Phan Tiến Đ1, Phạm Minh T1 và Nguyễn Văn T2 về hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và thu giữ số vật chứng, gồm:

  • - 01 (một) túi nylon miệng kéo dính bên trong chứa chất màu trắng;
  • - 01 (một) hộp nhựa đựng 03 (ba) viên nén màu cam,
  • - 01 (một) túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng (tất cả đã được niêm phong);
  • - 01 (một) loa nghe nhạc màu đen;
  • - 01 (một) đèn led chiếu sáng nhiều màu;
  • - 01 (một) thẻ nhựa;
  • - 01 (một) đĩa sứ màu trắng;
  • - 01 (một) tờ tiền giấy mệnh giá 02 USD (đô la Mỹ) được quấn thành hình ống tròn dùng để hút ma túy;
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, màu tím, số Imei: 351344355705150, số thuê bao: 0972.711010.

Quá trình xác minh và điều tra đã xác định rõ hành vi phạm tội của Mai Minh Đ, Phan Tiến Đ1, Phạm Minh T1Nguyễn Văn T2 như sau: Đ, Đ1, T1T2 có mối quan hệ quen biết nhau và đều là các đối tượng nghiện ma túy. Ngày 29/11/2022, Đ thuê căn hộ số 311 thuộc chung cư P, địa chỉ tại khu phố F, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương để sinh sống.

Khoảng 16 giờ ngày 23/4/2023, trong lúc Đ1, T1, T2, Lê Thị Trúc N2Nguyễn Thị Như Q cùng nhau ăn uống tại quán B, địa chỉ tại khu phố G, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì Đ1 rủ T1, T2, N2Q đến nhà Đ để chơi; tất cả đồng ý. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Đ1, T1, T2, N2Q đi đến nhà Đ tại căn hộ S thuộc chung cư P gặp Đ. Tại đây, N2Q ngồi ngoài phòng khách chơi còn Đ, Đ1, T1, T2 đi vào phòng ngủ của Đ nói chuyện thì Đ1 đề xuất mua ma túy để cùng nhau sử dụng. Đ, T1T2 đồng ý và cả bốn người thống nhất mua 01 hộp năm (05 gam) ma túy dạng khay (Ketamine) và 08 viên thuốc lắc (MDMA). Sau đó, Đ sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, màu tím lên mạng Google liên hệ hỏi mua 01 hộp năm (05 gam) ma túy dạng khay (Ketamine) và 08 viên thuốc lắc (MDMA) của một người nam (hiện chưa xác định rõ họ tên và địa chỉ cư trú) thì người nam báo giá tiên là 8.800.000đ và tiền công đi giao ma túy là 400.000đ, tổng số tiền là 9.200.000đ. Đ báo lại giá tiền trên cho Đ1, T1T2 thì tất cả đồng ý. Sau đó, Đ, Đ1, T1T2 thống nhất sẽ hùn tiền và chia đều số tiền 9.200.000đ với nhau còn N2Q thì cho sử dụng ma túy chung không phải trả tiền. Khoảng 30 phút sau, có một người nam (hiện chưa xác định rõ họ tên và địa chỉ cư trú) điện thoại gọi Đ xuống dưới sảnh chung cư P lấy ma túy nên Đ đi xuống đưa tiền và lấy ma túy từ người nam rồi đem lên căn hộ số 311 để cả nhóm cùng sử dụng. Sau đó, Đ đem ma túy vào trong phòng ngủ của Đ do Đ đã chuẩn bị sẵn loa nghe nhạc, đèn led, bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm đĩa sành, thẻ nhựa, ống hút bằng tiền USD (đô la Mỹ) rồi để ma túy vào đĩa sành để Đ, Đ1, T1, T2, N2Q cùng sử dụng.

Trong thời điểm trên, Trần Vũ Huy H1Nguyễn Minh T3 đang ngồi uống rượu tại quán ốc vỉa hè ở phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương và cả hai cùng thống nhất tìm nơi sử dụng ma túy nên H1 điện thoại cho Đ thì Đ nói đang sử dụng ma túy cùng với bạn nên H1 nói với ĐH1T3 sẽ đến phòng Đ sử dụng ma túy thì Đ đồng ý. Khoảng 01 giờ 15 phút ngày 24/4/2023, H1T3 đi đến căn hộ số 311 và vào phòng của Đ rồi cả hai cùng sử dụng ma túy với Đ, Đ1, T1, T2, N2Q. Khi cả nhóm đang sử dụng ma túy, thì Nguyễn Thị Ngọc M đến căn hộ số 311 của Đ chơi rồi vào phòng ngồi nói chuyện với Đ nhưng M không sử dụng ma túy. Đến khoảng 02 giờ 30 phút cùng ngày, trong lúc Đ, Đ1, T1, T2, N2, Q, H1T3 đang sử dụng ma túy và M đang ngồi trong phòng thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế-Ma túy Công an thành phố T chủ trì và phối hợp với Công an phường P kiểm tra hành chính, phát hiện và bắt quả tang như đã nêu trên.

Căn cứ Bản kết luận giám định số 223/KL-KTHS(MT) ngày 28/4/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: 01 bì thư được niêm phong có chữ ký của người bị bắt Mai Minh Đ, Phan Tiến Đ1, Phạm Minh T1, Nguyễn Văn T2, chữ ký cán bộ niêm phong Nguyễn Thành T4, chữ ký người chứng kiến Nguyễn Thị C và đóng dấu niêm phong hình dấu tròn đỏ của Công an phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương bên trong, gồm có:

  • - 01 túi nylon miệng kéo dính bên trong chứa chất màu trắng là ma túy, có khối lượng 0,9405 gam, loại Ketamine (ký hiệu M1). 01 túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng là ma túy, có khối lượng 1,4550 gam, loại Ketamine (ký hiệu M2-1).
  • - 03 viên nén màu cam là ma túy, có khối lượng 1,0483 gam, loại MDMA (ký hiệu M2-2).

Cáo trạng số 02/CT-VKSTDM ngày 07/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo Mai Minh Đ, Phan Tiến Đ1, Phạm Minh T1Nguyễn Văn T2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 255 và điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

a) Về trách nhiệm hình sự:

- Áp dụng các điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Mai Minh Đ, Phan Tiến Đ1 mức án từ:

  • + 07 năm 06 tháng - 08 năm 06 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
  • + 01 năm 03 tháng - 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • * Tổng hợp hình phạt: 08 năm 09 tháng – 10 năm tù.

- Áp dụng các điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 mức án từ:

  • + 07 năm 03 tháng - 08 năm 03 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
  • + 01 năm - 01 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • * Tổng hợp hình phạt: 08 năm 03 tháng – 09 năm 06 tháng tù.

- Áp dụng các điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 55, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Minh T1 mức án từ:

  • + 07 năm - 08 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
  • + 01 năm - 01 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • * Tổng hợp hình phạt: 08 năm – 09 năm 03 tháng tù.

b) Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư được niêm phong bên trong có chứa ma túy có khối lượng sau giám định gồm: 0,8040 gam (M1), 1,3880 gam (M2-1), 0,6994 gam (M2-2); 01 thẻ nhựa; 01 đĩa sứ màu trắng.
  • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, màu tím, số Imei: 351344355705150, số thuê bao: 0972.711010; 01 (một) tờ tiền giấy mệnh giá 02 USD (đô la Mỹ) được quấn thành hình ống tròn dùng để hút ma túy; 01 (một) loa nghe nhạc màu đen và 01 (một) đèn led chiếu sáng nhiều màu.

c) Về trách nhiệm dân sự: Không.

Tại phiên tòa, các bị cáo đều thống nhất toàn bộ nội dung bản cáo trạng, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên về phần hình phạt đối với các bị cáo. Các bị cáo không tranh luận và không tự bào chữa. Lời nói sau cùng: các bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, hứa cải sửa bản than và không tái phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản niêm phong, kết luận giám định cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Từ khoảng 23 giờ ngày 23/4/2023 đến 02 giờ ngày 24/4/2023, tại căn hộ S thuộc chung cư P, các bị cáo Mai Minh Đ, Phan Tiến Đ1, Phạm Minh T1Nguyễn Văn T2 có hành vi sử dụng địa điểm, cung cấp ma túy các loại Ketamin, MDMA và công cụ sử dụng ma túy để các đối tượng Nguyễn Thị Như Q, Trần Vũ Huy H1, Nguyễn Minh T3Lê Thị Trúc N2 (là người chưa đủ 18 tuổi) cùng với 04 bị cáo sử dụng thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế-Ma túy Công an thành phố T chủ trì và phối hợp cùng Công an phường P tiến hành kiểm tra hành chính thì phát hiện hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy như trên của các bị caó Đ, Đ1, T1T2. Ngoài ra, lực lượng Công an còn thu giữ được số ma túy loại Ketamine, có tổng khối lượng 2,3955 gam và loại MDMA, có khối lượng 1,0483 gam còn lại tại hiện trường trên đĩa sứ màu trắng và trong 01 hộp nhựa do các bị cáo Đ, Đ1, T1T2 cùng nhóm đối tượng Q, H1, T3, N2 chưa sử dụng hết.

Hành vi mà các bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự và điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi mà các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy. Hiện nay, tình hình nghiện hút chất ma túy đang diễn ra phức tạp trong mọi tầng lớp. Tệ nạn này là mối quan tâm của toàn xã hội, một trong những nguyên nhân dẫn đến tệ nạn này chưa được đẩy lùi chính là có sự tiếp tay của các bị cáo. Bản thân các bị cáo nhận thức được tính nguy hiểm, trái pháp luật hình sự do hành vi mình thực hiện nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội bất chấp hậu quả và pháp luật, Do đó, đối với các bị cáo cần áp dụng mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi mà mỗi bị cáo đã thực hiện, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

Trước khi thực hiện tội phạm các bị cáo có sự bàn bạc thống nhất từ trước nên vụ án mang tính chất đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn.

+ Xét về vai trò:

  • - Bị cáo Đ1: là người lên tiếng đề xuất các bị cáo khác thực hiện tội phạm nên vai trò cao nhất. Do vậy hình phạt của bị cáo Đ1 phải nghiêm khắc nhất.
  • - Bị cáo Đ: Là người dùng nơi ở của mình để tổ chức, chuẩn bị sẵn dụng cụ, ứng tiền mua ma túy nên hình phạt của Đ phải nghiêm khắc hơn các bị cáo còn lại.
  • - Bị cáo T1T2 là người bị rủ rê nhưng hưởng ứng tích cực nên hình phạt hai bị cáo ngang nhau. Tuy nhiên cần xem xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt của từng bị cáo để quyết định hình phạt cho phù hợp.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Phan Tiến Đ1 được được Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường U, thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương tặng Giấy khen do có thành tích xuất sắc trong phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc năm 2020. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Phạm Minh T1 được Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường H, thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương tặng Giấy khen do có thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ Quân sự-Quốc phòng năm 2023. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về biện pháp tư pháp:

- Đối với 01 bì thư được niêm phong có chữ ký của người bị bắt Mai Minh Đ, Phan Tiến Đ1, Phạm Minh T1, Nguyễn Văn T2, chữ ký cán bộ niêm phong Nguyễn Thành T4, chữ ký người chứng kiến Nguyễn Thị C và đóng dấu niêm phong hình dấu tròn đỏ của Công an phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, theo Kết luận giám định số 223/KL-KTHS(MT) ngày 28/4/2023 và Biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại mẫu đối tượng giám định ngày 24/4/2023 thì bên trong có chứa ma túy, loại Ketamine (ký hiệu M1), (ký hiệu M2-1) và 03 (ba) viên nén màu cam là ma túy, loại MDMA (ký hiệu M2-2); khối lượng hoàn lại sau giám định là: 0,8040 gam (M1), 1,3880 gam (M2-1), 0,6994 gam (M2-2) là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.

  • - Đối với 01 thẻ nhựa; 01 đĩa sứ màu trắng là các vật chứng của vụ án hiện không có giá trị sử dụng nên cân tịch thu, tiêu hủy.
  • - Đối với các vật chứng khác gồm 01 tờ tiền giấy mệnh giá 02 USD (đô la Mỹ) được quấn thành hình ống tròn dùng để hút ma túy; 01 (một) loa nghe nhạc màu đen và 01 đèn led chiếu sáng nhiều màu; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, màu tím, số Imei: 351344355705150, số thuê bao: 0972.711010 là tài sản liên quan đến tội phạm nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

[7] Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 136, 260, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Mai Minh Đ, Phan Tiến Đ1, Phạm Minh T1Nguyễn Văn T2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

2.1. Áp dụng các điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Mai Minh Đ 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo Đ phải chấp hành hình phạt chung 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/12/2023 được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam trước đây từ ngày 24/4/2023 đến 05/5/2023.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 07 (bảy) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo T2 phải chấp hành hình phạt chung 08 (tám) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/4/2023.

2.2. Áp dụng các điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Phan Tiến Đ1 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo Đ1 phải chấp hành hình phạt chung 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án phạt tù được trừ đi thời gian tạm giữ tạm giam trước đây từ ngày 24/4/2023 đến 05/5/2023.

- Xử phạt bị cáo Phạm Minh T1 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo T1 phải chấp hành hình phạt chung 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án phạt tù được trừ đi thời gian tạm giữ tạm giam trước đây từ ngày 24/4/2023 đến 11/5/2023.

3. Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 223/PC09, có chữ ký của người bị bắt Mai Minh Đ, cán bộ niêm phong Nguyễn Thành T4, người chứng kiến Nguyễn Thị C; đóng dấu tròn đỏ của Công an phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; đóng dấu niêm phong bằng dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B. Theo Kết luận giám định số 223/KL-KTHS(MT) ngày 28/4/2023 thì bên trong có 01 (một) hộp nhựa chứa ma túy có khối lượng sau giám định gồm: 0,8040 gam (M1), 1,3880 gam (M2-1) loại Ketamine; 0,6994 gam (M2-2) loại MDMA;
  • + 01 (một) thẻ nhựa;
  • + 01 (một) đĩa sứ màu trắng.

-Tịch thu, sung vào Ngân sách nhà nước:

  • + 01 (một) bì thư niêm phong có ghi số 02 USD (Hai đô la Mỹ) có đóng dấu tròn đỏ của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một, có chữ ký của Nguyễn Thành T4, Lưu Thị Huyền N3, Nguyễn Lương N4, Nguyễn Văn T5 bên trong bì thư có chứa: 01 (một) tờ tiền giấy mệnh giá 02 USD (Hai đô la Mỹ) được quấn thành hình ống tròn;
  • + 01 (một) loa nghe nhạc đã cũ, đã qua sử dụng màu đen (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động);
  • + 01 (một) đèn led chiếu sáng nhiều màu đã cũ, đã qua sử dụng (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động);
  • + 01 (một) điện thoại đã qua sử dụng hiệu Iphone 14 Promax, màu tím, số Imei: 351344355705150, số thuê bao: 0972.711010 (không kiểm tra chi tiết, tình trạng hoạt động).

(Thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng số 044.24 ngày 08/12/2023 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T).

4. Về án phí: Các bị cáo mỗi người phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Thủ Dầu Một;
  • - Công an thành phố Thủ Dầu Một;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Dầu Một;
  • - Sở Tư Pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Huỳnh Minh Trí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2024/HS-ST ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự

  • Số bản án: 74/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố Mai Minh Đức củng đồng phạm phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger