|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 74/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 02 - 5 - 2024
V/v “Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Kim Liên và bà Nguyễn Thị Thu Cúc.
Thư ký phiên tòa: Bà Khưu Huỳnh Mỹ Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Ngày 02 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 128/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 190/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 185/2024/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đỗ Minh N, sinh năm 2001, (Có đơn xin vắng mặt)
Cư trú: Số A, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long;
- Bị đơn: Bà Trần Thị Hoàng O, sinh năm 2001, (Vắng mặt)
Cư trú: Số D P, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn ông Đỗ Minh N, trình bày:
+ Về quan hệ hôn nhân: Ông Đỗ Minh N và bà Trần Thị Hoàng O tự nguyện quen biết tìm hiểu sau đó tiến đến hôn nhân. Đến ngày 24/8/2022, vợ chồng đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long theo Giấy chứng nhận kết hôn số 49. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được 01 (một) năm thì phát sinh mâu thuẫn. Bà O đã bỏ nhà đi về nhà cha mẹ của bà O sống khoảng 03 tháng nay và chặn mọi liên lạc với ông N. Ông N có tìm đến nhà bà O để hàn gắn nhưng không thành. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông Đỗ Minh N yêu cầu được ly hôn với bà Trần Thị Hoàng O.
+ Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
+ Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn: Bà Trần Thị Hoàng O không có văn bản trình bày ý kiến gửi Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; không tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; không tham dự phiên tòa do Tòa án triệu tập.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Đỗ Minh N tranh chấp về ly hôn với bà Trần Thị Hoàng O, tranh chấp được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà O có nơi cư trú tại thành phố L, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bà Trần Thị Hoàng O đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không tham gia phiên tòa, ông Đỗ Minh N có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt ông N và bà O.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân:
[3.1.1] Ông Đỗ Minh N và bà Trần Thị Hoàng O tự nguyện quen biết, tìm hiểu và tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 49 ngày 24/8/2022. Đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình. Ông Đỗ Minh N khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà Trần Thị Hoàng O. Ông N cho rằng trong quá trình chung sống vợ chồng không có tiếng nói chung, hiện tại bà O đã bỏ nhà đi về nhà cha mẹ của bà O sống, ông N đã nhiều lần tìm bà O để hàn gắn nhưng không thành.
[3.1.2] Hội đồng xét xử xét: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bà Trần Thị Hoàng O không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Minh N, không tham dự các phiên hòa giải cũng như không tham dự các phiên tòa. Điều này thể hiện bà O không muốn đoàn tụ gia đình. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, các bên đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, yêu cầu khởi kiện của ông N là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.2] Về con chung: Ông Đỗ Minh N và bà Trần Thị Hoàng O không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Ông Đỗ Minh N không yêu cầu Tòa án giải quyết và bà Trần Thị Hoàng O cũng không có ý kiến về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này các bên có phát sinh tranh chấp thì sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
[3.4] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông Đỗ Minh N có nghĩa vụ nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Minh N đối với bà Trần Thị Hoàng O. Ông Đỗ Minh N được ly hôn với bà Trần Thị Hoàng O.
- Về con chung: Không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông Đỗ Minh N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001626 ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Ông N đã thực hiện xong.
- Về quyền kháng cáo: Ông Đỗ Minh N và bà Trần Thị Hoàng O được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Lan |
Bản án số 74/2024/HNGĐ-ST ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 74/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Minh N kiện xin ly hôn Trần Thị Hoàng O
