Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CHƠN THÀNH

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 74/2025/HSST

Ngày: 23/5/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa:

Ông Nguyễn Nguyên Hoàng

- Và các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lương Thị Thu An

 

Bà Hồ Thị Xuân Thiều

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Võ Thị Hạnh - Cán bộ Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: các ông Lê Quốc Tuấn, ông Bồ Đức T, Kiểm sát viên.

Trong các ngày 20 và 23 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 67/2025/HSST ngày 03 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lâm Thị C – sinh năm 1981 tại Bình Phước.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Thiên chúa; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 01/12.

Nơi thường trú: tổ A, ấp B, xã M. thị xã C, tỉnh Bình Phước.

Con ông Lâm Văn P (đã chết) và bà Nguyễn Thị D (đã chết).

Có chồng Ngô Văn Q, sinh năm 1983 và 01 con sinh năm 2008.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/5/2024 đến ngày 07/8/2024 được tại ngoại. Ngày 12/11/2024, bị thay thế biện pháp tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: luật sư Dương Vĩnh T1 – Văn phòng L, đoàn luật sư tỉnh Bình Phước. (có mặt)

- Bị hại: ông Hồ Văn V, sinh năm 1967 (có mặt)

Bà Dung Thị N, sinh năm 1970 (có mặt)

Cùng địa chỉ: ấp C, xã M, thị xã C, tỉnh Bình Phước.

- Người đại diện theo pháp luật cho bị cáo: Bà Lâm Thị H, sinh năm 1969 (có mặt)

Địa chỉ: tổ A, ấp B, xã M, thị xã C, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 6 năm 2023, Lâm Thị C làm thuê, quét dọn cho Công ty TNHH "", có địa chỉ: Ấp C, xã M, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Công ty K mua, bán vàng, bạc. Khoảng tháng 6 năm 2023, ông V thuê Lâm Thị C vào làm công việc lao công quét dọn tại Công ty. Hàng ngày, C đến công ty làm việc từ 07 giờ 30 phút đến 12 giờ cùng ngày thì nghỉ về nhà.

Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 08/05/2024, trong lúc làm việc tại khu vực quầy bán vàng và các tủ kính trưng bày vàng trưng bày, C thấy các tủ kính trưng bày vàng đang trong tình trạng không khóa. Thấy ông V (giám đốc công ty) đang ngồi ở quầy bán vàng nhưng không để ý xung quanh nên C nảy sinh ý định lấy trộm vàng tại tủ kính trưng bày để bán lấy tiền tiêu xài. Của quét dọn gần khu vực tủ kính rồi dùng tay mở cửa tủ lấy trộm 02 mặt dây chuyền bạc, trên mặt dây chuyền có đính đá, màu trắng rồi cất giấu vào túi quần. Sau đó, C đóng tủ kính lại rồi tiếp tục quét dọn. Khoảng 30 phút sau, vợ của ông V là bà Dung Thị N, xem Camera lắp đặt tại Công ty phát hiện Của trộm cắp vàng nên bà N nói với C "Em lấy đồ của chị thì trả lại cho chị", đồng thời bà N đưa hình ảnh Camera việc Của lấy trộm 2 mặt dây chuyền cho Của xem. Thấy bị phát hiện, C đưa 02 mặt dây chuyền đã lấy trộm được trả lại cho bà N. Nghi ngờ C còn nhiều lần trộm cắp vàng của Công ty nên bà N trích xuất Camera kiểm tra thì phát hiện từ tháng 3 đến tháng 4 năm 2024, C nhiều lần trộm cắp vàng.

Quá trình điều tra đã xác định từ tháng 12 năm 2023 đến tháng 3 năm 2024, C đã trộm 08 nhẫn vàng của công ty " cụ thể như sau: Nhẫn kim tiền bằng kim loại màu vàng, mặt trong có khắc chữ K*L* 614 PH, đường kính 1,8 cm, loại vàng 18K, trọng lượng 2,112 gram (5 phân 6.5); Nhẫn kim tiền bằng kim loại màu vàng, mặt trong có khắc chữ K*L* 610 PH, đường kính 1,8 cm, loại vàng 18K, trọng lượng 1,860 gram (4 phân 9); Nhẫn kim tiền bằng kim loại màu vàng, mặt trong có khắc chữ PPJ* 610 PH đường kính 1,8 cm, loại vàng 18K, trọng lượng 1,080 gram (2 phân 9); Nhẫn kim tiền bằng kim loại màu vàng, mặt trong khắc chữ TD.61C VT, đường kính 1.8 cm, loại vàng 18K, trọng lượng 0,940 gram (2 phân 6); Nhẫn kim tiền bằng kim loại màu vàng, mặt trong khắc chữ TD.61C VT, đường kính 1,8 cm, là loại vàng 18K, trọng lượng 0,850 gram (2 phân 3); Nhẫn kim tiền hột tấm bằng kim loại màu vàng, bên trong có khắc chữ NT 610 K*L, mặt nhẫn tạo thành từ 03 vòng tròn, có đính đá trắng, loại vàng 18K, trọng lượng vàng 2,380 gram (6 phân 1), trọng lượng đá 2 li; Nhẫn bằng kim loại màu vàng, bên trong mặt có khắc chữ KHL, mặt nhẫn được tạo thành từ hình con cá và vòng tròn, có đính đá trắng, loại vàng 18K, trọng lượng vàng 3,984 gram (1 chỉ lẻ 5 li), trọng lượng đá 1 li và N1 bằng kim loại màu vàng, bên trong mặt có khắc chữ HT DM, bên ngoài có chữ KV, mặt nhẫn hình vuông, có đính đá trăng nhỏ, loại vàng 18K, trọng lượng vàng 0,582 gram (01 phân 4), trọng lượng đá 2 li.

Tại Cơ quan điều tra C khai nhận trong quá trình làm việc tại Công ty "", Của nhiều lần trộm cắp vàng của Công ty. Tuy nhiên, thời gian và giá trị tài sản mỗi lần trộm cắp thì C không xác định được. Qua Camera xác định C lấy trộm 09 lần với 11 chiếc nhẫn vàng, loại vàng 18K (Trong đó có 08 chiếc nhẫn mà Của giao nộp) vào các ngày 10/03/2024, 09/04/2024, 21/04/2024, 22/04/2024, 24/04/2024 và ngày 26/04/2024.

Trong lúc làm việc tại khu vực quầy bán vàng, Của thấy các tủ kính trưng bày vàng không khóa, lợi dụng sơ hở của chủ tiệm vàng, C dùng tay mở cửa tủ lấy trộm 09 lần với 11 chiếc nhẫn vàng. Mỗi lần lấy trộm vàng, C cất giấu vào túi xách Của đeo trên người, rồi C mặc áo khoác bên ngoài để che giấu túi xách. Sau khi lấy trộm 11 chiếc nhẫn, Của mang 03 chiếc nhẫn (không xác định đặc điểm, trọng lượng vàng) đến bán tại Công ty "Kim Thắng", địa chỉ: Á, xã M, thị xã C, tỉnh Bình Phước.

Kết luận định giá tài sản số 31 ngày 17/05/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã C, kết luận: Nhẫn kim tiền bằng kim loại màu vàng, mặt trong có khắc chữ K*L* 614 PH, đường kính 1,8 cm, loại vàng 18K, trọng lượng 2,112 gram (5 phân 6.5), tại thời điểm chiểm đoạt trị giá 2.457.000đ; Nhẫn kim tiền bằng kim loại màu vàng, mặt trong có khắc chữ K*L* 610 PH, đường kính 1,8 cm, loại vàng 18K, trọng lượng 1,860 gram (4 phân 9), tại thời điểm chiếm đoạt trị giá 2.131.000đ; Nhẫn kim tiền bằng kim loại màu vàng, mặt trong có khắc chữ PPJ* 610 PH đường kính 1,8 cm, loại vàng 18K, trọng lượng 1,080 gram (2 phân 9), tại thời điểm chiếm đoạt trị giá 1.261.000đ; Nhẫn kim tiền bằng kim loại màu vàng, mặt trong khắc chữ TD.61C VT, đường kính 1.8 cm, loại vàng 18K, trọng lượng 0,940 gram (2 phân 6), tại thời điểm chiếm đoạt trị giá 1.131.000đ; Nhẫn kim tiền bằng kim loại màu vàng, mặt trong khắc chữ TD.61C VT, đường kính 1,8 cm, là loại vàng 18K, trọng lượng 0,850 gram (2 phân 3), tại thời điểm chiếm đoạt trị giá 1.000.000đ; Nhẫn kim tiền hột tấm bằng kim loại màu vàng, bên trong có khắc chữ NT 610 K*L, mặt nhẫn tạo thành từ 03 vòng tròn, có đính đá trắng, loại vàng 18K, trọng lượng vàng 2,380 gram (6 phân 1), trọng lượng đá 2 li), tại thời điểm chiếm đoạt trị giá 2.653.000đ; Nhẫn bằng kim loại màu vàng, bên trong mặt có khắc chữ KHL, mặt nhẫn được tạo thành từ hình con cá và vòng tròn, có đính đá trắng, loại vàng 18K, trọng lượng vàng 3,984 gram (1 chỉ lẻ 5 li), trọng lượng đá 1 li), tại thời điểm chiếm đoạt trị giá 3.675.000đ; Nhẫn bàng kim loại màu vàng, bên trong mặt có khắc chữ HT DM, bên ngoài có chữ KV, mặt nhẫn hình vuông, có đính đá trắng nhỏ, loại vàng 18K, trọng lượng vàng 0,582 gram (01 phân 4), trọng lượng đá 2 li), tại thời điểm chiếm đoạt trị giá 490.000đ; mặt dây chuyền bằng kim loại màu bạc, bên trên mặt có đính đá, trọng lượng 6 phân 5.8, tại thời điểm chiếm đoạt trị giá 65.000đ và mặt dây chuyền bằng kim loại màu bạc, bên trên mặt có đính đá, trọng lượng 9 phân 1.8, tại thời điểm chiếm đoạt trị giá 100.000đ. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 14.963.000đ.

Kết luận giám định số 4275/KL-KTHS ngày 06/8/2024 của Phân viện khoa học hình sự (C09B) Bộ C1 kết luận:

  • - 02 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng có khắc chữ KL610, tổng khối lượng 3,9944 gam (M8) được niêm phong gửi đi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au): 61,10%, B (A): 17,06%, Đ (Cu): 21,8%.
  • - 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng có khắc chữ PPJ610, khối lượng 1,0955 gam (M9) được niêm phong gửi đi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au): 61,15%, B (A): 17,69%, Đ (Cu): 21,16%.
  • - 02 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng có khắc chữ TC61C, khối lượng 1,8497 gam (M10) được niêm phong gửi đi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au): 60,79%, B (A): 20,08%, Đ (Cu): 19,13%.
  • - 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng có 03 vòng tròn đính đá trắng, khối lượng 2,4077 gam (M11) được niêm phong gửi đi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au): 61,57%, B (A): 16,02%, Đ (Cu): 22,41%.
  • - 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng có 02 chữ C, đính đá trắng, khối lượng 3,2118 gam (M12) được niêm phong gửi đi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au): 61,06%, B (A): 19,14%, Đ (Cu): 19,80%.
  • - 01 chiếc nhẫn bằng kim loại màu vàng có hình con cá và vòng tròn đính đá trắng, khối lượng 4,0015 gam (M13) được niêm phong gửi đi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au): 61,36%, B (A): 22,15%, Đ (Cu): 16,49%.
  • - 01 mặt dây chuyền bằng kim loại màu trắng có đính đá trắng, khối lượng 3,4779 gam (MIS) được niêm phong gửi đi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au): 0,06%, B (A): 96,65%, Đ (Cu): 3,28%.
  • - 01 mặt dây chuyển bằng kim loại màu trắng có đính đá trắng, khối lượng 2,4942 gam (M16) được niêm phong gửi đi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là vàng (Au): 0,05%, B (A): 95,52%, Đ (Cu): 4,43%.

Kết luận giám định số 819/KL-KTHS ngày 20/9/2024 của phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: 39 (Ba mươi chín) đoạn Video được lưu trữ trong 01 USB nhãn hiệu Cruzer Glide, dung lượng 16GB, màu trắng và nhiều đoạn video lưu trữ trong 01 (Một) ổ cứng điện tử màu trắng có dung lượng 500GB ghi lại hình ảnh Trộm cắp tài sản, do Công an xã M vào ngày 11/05/2024 như sau: Không tìm thấy dấu vết cắt, ghép, chỉnh sửa nội dung trong tập tin Video gửi đi giám định.

Kết luận giám định số 6329/KL-KTHS ngày 28/8/2024 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố H kết luận:

  • - Về y học: Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội cho đến hiện tại, bị can Lâm Thị C bị chậm phát triển tâm thần mức độ nhẹ (F70-ICD10).
  • - Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội cho đến hiện tại, bị can Lâm Thị C hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Quá trình điều tra đã thu giữ:

Đối với 01 (một) nhẫn kim tiền bằng kim loại màu vàng, mặt trong có khắc chữ KL 614 PH, đường kính 1,8cm, loại vàng 18K; 01 nhẫn kim tiền bằng kim loại màu vàng, mặt trong có khắc chữ K*L* 610 PH, đường kính 1,8 cm, loại vàng 18K; 01 (một) nhẫn kim tiền bằng kim loại màu vàng, mặt trong có khắc chữ PPJ* 610 PH, đường kính 1,8 cm, loại vàng 18K; 01 nhẫn kim tiền bằng kim loại màu vàng, mặt trong khắc chữ TD.61C VT, đường kính 1.8 cm, loại vàng 18K; 01 nhẫn kim tiền bằng kim loại màu vàng, mặt trong khắc chữ TD.61C VT, đường kính 1,8 cm, là loại vàng 18K; 01 nhẫn kim tiền hột tấm bằng kim loại màu vàng, bên trong có khắc chữ NT 610 K*L, mặt nhẫn tạo thành từ 03 vòng tròn, có đính đá trắng, loại vàng 18K; 01 nhẫn bằng kim loại màu vàng, bên trong mặt có khắc chữ KHL, mặt nhẫn được tạo thành từ hình con cá và vòng tròn, có đính đá trắng, loại vàng 18K; 01 mặt dây chuyền bằng kim loại màu bạc, bên trên mặt có đính đá, trọng lượng 6 phân 5.8 và; 01 mặt dây chuyền bằng kim loại màu bạc, bên trên mặt có đính đá, trọng lượng 9 phân 1.8.; 01 (một) nhẫn chỉ bằng kim loại màu vàng, bên trong mặt có khắc chữ TTK*1*01.9, bên ngoài mặt dưới khắc số và chữ 5 KV, mặt nhẫn được tạo thành từ 02 hình chữ C, có đính đá trắng, loại vàng 18K, những tài sản này là tài sản hợp pháp của Công ty "", Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là ông V.

Đối với 09 (chín) vòng xi men bằng kim loại màu vàng, hình tròn, đường kính 5,8cm; 01 (một) nhẫn bằng kim loại màu vàng, bên trong mặt có khắc chữ HT DM, bên ngoài có chữ KV, mặt nhẫn hình vuông, có đính đá trắng nhỏ, loại vàng 18K; 01 (một) lắc chân bằng kim loại màu vàng, chiều dài 25cm, loại vàng 18K; 01 (một) vòng tay kết bằng 16 viên đá xanh hình tròn và 02 miếng kim loại màu vàng hình tròn, loại vàng 18K; 01 (một) dây kim loại màu vàng, chiều dài 17cm (Là của Của hay của chị C); 01 (một) đôi bông tai kim loại màu vàng, đường kính mỗi chiếc 1cm, loại vàng 18K; 01 (một) dây chuyền kim loại màu vàng, chiều dài 46cm, mặt dây chuyền hình chữ nhật, kích thước các cạnh (1,5 x 2)cm, loại vàng 18K; 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng, bên trong mặt có chữ KV*610, mặt trên nhẫn có đính đá màu tím, loại vàng 18K, trong quá trình điều tra.

Đối với 01 (một) USB nhãn hiệu Cruzer Glide, dung lượng 16GB, màu trắng và 01 (một) ổ cứng điện tử màu trắng có dung lượng 500GB được niêm phong chuyển theo hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại yêu cầu Lâm Thị C bồi thường số tiền 1.100.000.000đ. Đến nay, C chưa bồi thường cho bị hại.

Tại bản cáo trạng số 69/CT-VKS- CT ngày 31/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Lâm Thị C phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lâm Thị C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lâm Thị C mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

- Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Lời nói sau cùng bị cáo rất biết lỗi của mình bị cáo biết hành vi của mình là sai.

Người bào chữa cho bị cáo thống nhất với đại diện VKS về tội danh và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xử phạt bị cáo mức án bằng thời hạn tạm giam đối với bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Lâm Thị C khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng số 69/CTr-VKS- CT ngày 31 tháng 3 năm 2025, của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người chứng kiến về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, vật chứng vụ án. Đồng thời phù hợp với kết luận của đại diện Viện kiểm sát cùng các tài liệu, chứng cứ được xét hỏi công khai tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: trong khoảng thời gian từ tháng 12 năm 2023 đến ngày 08/5/2024, bị cáo Lâm Thị C trong quá trình làm việc tại tại công ty TNHH " tại ấp C, xã M, thị xã C, tỉnh Bình Phước, quá trình làm tại đây bị cáo đã đã lén lút lấy trộm 08 nhẫn vàng và 02 mặt dây chuyền bạc của công ty. Trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 14.963.000đ đồng (Mười bốn triệu chín trăm sáu mươi ba nghìn đồng).

[3] Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ ngoài ra còn gây mất trật tự trị an tại địa phương.

[4] Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành truy tố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất và mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là nghiêm trọng. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có dù bị hạn chế năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng bị cáo vẫn nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Bị cáo nhận thức được việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác vi phạm pháp luật và bị pháp luật nghiêm trị nhưng chỉ vì tư lợi cá nhân mà bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội.

[5] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

[6] Về quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo trong thời gian dài đã nhiều lần lấy trộm vàng của bị hại còn có một số lần không chứng minh được, bị cáo liên tục thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại nên cần xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm khắc bằng hình phạt tù mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

[7] Kết luận của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử phạt bị cáo bằng thời hạn tạm giam là quá nhẹ không có tính chất răn đe đối với bị cáo nên không được chấp nhận.

[8] Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.100.000.000 đồng. Tuy nhiên quá trình điều tra không chứng minh được số tài sản bị cáo chiếm đoạt nên cần tách ra giải quyết sau.

[9] Vật chứng vụ án: đối với 09 (chín) vòng xi men bằng kim loại màu vàng, hình tròn, đường kính 5,8cm; 01 (một) nhẫn bằng kim loại màu vàng, bên trong mặt có khắc chữ HT DM, bên ngoài có chữ KV, mặt nhẫn hình vuông, có đính đá trắng nhỏ, loại vàng 18K; 01 (một) lắc chân bằng kim loại màu vàng, chiều dài 25cm, loại vàng 18K; 01 (một) vòng tay kết bằng 16 viên đá xanh hình tròn và 02 miếng kim loại màu vàng hình tròn, loại vàng 18K; 01 (một) dây kim loại màu vàng, chiều dài 17cm (Là của Của hay của chị C); 01 (một) đôi bông tai kim loại màu vàng, đường kính mỗi chiếc 1cm, loại vàng 18K; 01 (một) dây chuyền kim loại màu vàng, chiều dài 46cm, mặt dây chuyền hình chữ nhật, kích thước các cạnh (1,5 x 2)cm, loại vàng 18K; 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng, bên trong mặt có chữ KV*610, mặt trên nhẫn có đính đá màu tím, loại vàng 18K là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

[10] Các vấn đề khác: trong vụ án này còn xác định được : vào các ngày 11/3/2024, 14/3/2024, 20/3/2024, 21/3/2024, 22/3/2024, 09/4/2024, 22/4/2024, 24/4/2024 và 26/4/2024, Lâm Thị C thực hiện 10 lần trộm cắp 21 nhẫn kim loại vàng và 02 mặt dây chuyền kim loại bạc của Công ty ", rồi mang đi bán lấy tiền tiêu xài. Tuy nhiên, không có tài liệu, chứng cứ xác định trọng lượng vàng, loại vàng để có cơ sở định giá tài sản bị chiếm đoạt. Do đó, Cơ quan điều tra không có cơ sở để xử lý Lâm Thị C về hành vi trộm cắp tài sản vào các ngày này và VKS thị xã C cũng đã trả hồ sơ điều tra bổ sung nhưng vẫn không chứng minh được nên không có căn cứ để xử lý. Vì vậy Hội đồng xét xử kiến nghị CQĐT tiếp tục xác minh xử lý sau.

[11] Về án phí: bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lâm Thị C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s, q khoản 1, Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo Lâm Thị C 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày 12/11/2024, được khấu trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/5/2024 đến ngày 07/8/2024

  3. Xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Trả lại cho bị cáo 09 (chín) vòng xi men bằng kim loại màu vàng, hình tròn, đường kính 5,8cm; 01 (một) nhẫn bằng kim loại màu vàng, bên trong mặt có khắc chữ HT DM, bên ngoài có chữ KV, mặt nhẫn hình vuông, có đính đá trắng nhỏ, loại vàng 18K; 01 (một) lắc chân bằng kim loại màu vàng, chiều dài 25cm, loại vàng 18K; 01 (một) vòng tay kết bằng 16 viên đá xanh hình tròn và 02 miếng kim loại màu vàng hình tròn, loại vàng 18K; 01 (một) dây kim loại màu vàng, chiều dài 17cm (Là của Của hay của chị C); 01 (một) đôi bông tai kim loại màu vàng, đường kính mỗi chiếc 1cm, loại vàng 18K; 01 (một) dây chuyền kim loại màu vàng, chiều dài 46cm, mặt dây chuyền hình chữ nhật, kích thước các cạnh (1,5 x 2)cm, loại vàng 18K; 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng, bên trong mặt có chữ KV*610, mặt trên nhẫn có đính đá màu tím, loại vàng 18K.

  4. Về án phí: áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
  5. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương.

Nơi nhận:

  • - TAND- VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND thị xã Chơn Thành;
  • - THADS thị xã Chơn Thành;
  • - CA thị xã Chơn Thành (03 bản);
  • - Phòng P27 Công an Bình Phước
  • - TT Lý lịch tư pháp – Sở tư pháp tỉnh Bình Phước;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Nguyên Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 74/2025/HSST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 74/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lâm Thị Của
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger