|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 74/2025/HS-ST |
Ngày: 27/6/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Duy Phượng |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Phạm Thị Lan |
| Ông Đào Ngọc Khải |
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đông Hà - Thư ký TAND tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà:
Bà Hoàng Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 27/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 65/2025/HSST ngày 06/6/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2025/QĐXXST-HS ngày 09/6/2025, đối với:
Các bị cáo:
- Lương Ngọc T, sinh năm 1990, tại huyện Â, tỉnh Hưng Yên; nơi cư trú: Thôn T, xã X, huyện Â, tỉnh Hưng Yên; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Lớp 12/12; nghề nghiệp: Giám đốc Công ty TNHH Đ; con ông Lương Ngọc T1 (đã chết) và bà Vũ Thị M; vợ là Nguyễn Thị H; bị cáo có ba con, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/10/2024; có mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Văn L, sinh năm 1993, tại huyện N, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; trình độ học vấn: Lớp 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn T2 và bà Phạm Thị V; vợ là Chu Thị T3; bị cáo có hai con, sinh năm 2015 và 2017; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/10/2024; có mặt tại phiên tòa.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Công ty TNHH D, đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hồng N – Tổng giám đốc; Địa chỉ: Số E V, phường K, quận T, TP Hà Nội; có đơn xin vắng mặt.
- Công ty TNHH A (đại diện pháp lý của Công ty I); Địa chỉ: Tầng B, tòa nhà C, số F L, phường T, quận C, TP Hà Nội; có đơn xin vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn V, xã T, TP B, tỉnh Bắc Giang; vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn T, xã X, huyện Â, tỉnh Hưng Yên; có mặt.
- Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1989; Địa chỉ: Thôn T, xã X, huyện Â, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn T, xã X, huyện Â, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ tháng 7/2023 đến tháng 5/2024, tại kho sản xuất thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện Â, tỉnh Hưng Yên và kho dán tem, đóng gói thuộc thôn T, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, Lương Ngọc T, với vai trò chủ mưu, đã bàn bạc, thống nhất với Nguyễn Văn L để sản xuất và kinh doanh hàng giả mang nhãn hiệu D-nee (thuộc Công ty TNHH N1, Thái Lan, do Công ty TNHH D nhập khẩu, phân phối độc quyền tại Việt Nam) và nhãn hiệu Hygiene (thuộc Công ty I1., L2, Thái Lan, do Công ty I sản xuất, nhập khẩu, phân phối độc quyền). Tổng giá trị hàng giả tương đương với sản phẩm chính hãng là 545.482.200 đồng. Các bị cáo đã thu lợi bất chính số tiền 7.800.000 đồng từ việc tiêu thụ hàng giả.
Cụ thể:
Lương Ngọc T là Giám đốc Công ty TNHH Đ (thành lập ngày 19/9/2022, trụ sở tại thôn T, xã X, huyện Â, tỉnh Hưng Yên). Với mục đích thu lợi nhuận cao, T biết các sản phẩm nước giặt D-nee và nước xả vải Hygiene là những nhãn hiệu được thị trường ưa chuộng, nhưng công ty của T không được ủy quyền sản xuất hoặc gia công các sản phẩm này. T đã rủ Nguyễn Văn L, một người bạn, tham gia sản xuất hàng giả, và L đồng ý. T trả lương cho L 20.000.000 đồng/tháng.
Để thực hiện hành vi, T thuê kho tại thôn Đ, xã Đ, huyện  (của ông Phạm Văn H1) làm xưởng sản xuất và kho tại thôn T, xã L, huyện Y (của anh Trần Văn X) làm nơi dán tem nhãn, đóng gói và cất giấu hàng giả. T mua sản phẩm chính hãng D-nee và H2 để nghiên cứu mẫu mã, tem nhãn, thành phần, sau đó sử dụng hóa chất (mua từ Công ty TNHH L4), hương liệu (mua từ Công ty TNHH T6), can nhựa (mua từ Công ty cổ phần B2), tem nhãn giả (đặt qua mạng xã hội từ một người tên H3) và tem phụ (mua từ Công ty Q) để sản xuất hàng giả. T tổ chức sản xuất tại kho Đ, sau đó vận chuyển sản phẩm đến kho T để L và các công nhân (bao gồm vợ T, Nguyễn Thị H, và các công nhân khác) dán tem nhãn, đóng thùng, chuẩn bị đưa ra thị trường.
T thuê các công nhân gồm: Lương Ngọc B1, Lương Việt H4, Lương Ngọc T5, Lê Khắc L3, Nguyễn Thị H5, Nguyễn Thị H6, và Nguyễn Thị H thực hiện các công đoạn pha chế, chiết rót, dán tem, đóng gói, với mức lương từ 4.000.000 đến 10.000.000 đồng/tháng tùy vị trí. T lập nhóm Z để điều hành công việc và khi T bận, L thay T quản lý qua nhóm này. Các sản phẩm giả được sản xuất đan xen với sản phẩm nước giặt Violet hợp pháp của Công ty Đ.
Các sản phẩm giả bao gồm:
- Nước giặt D-nee: 1.812 can (308 can Honeystar, 320 can Organic A, 580 can Lovely Sky, 604 can Yellow Moon, loại 3000ml/can) và 969 túi D-nee Organic (1400ml/túi).
- Nước xả vải Hygiene: 2.960 túi (1.296 túi 1300ml vỏ trắng, 1.664 túi 1150ml vỏ đen).
Ngày 13/5/2024, L bán 60 can nước giặt D-nee (15 thùng) cho hộ kinh doanh của chị Nguyễn Thị L1 (thôn V, xã T, TP B) với giá 7.800.000 đồng. T nhờ hai cửa hàng tạp hóa của anh Nguyễn Văn T4 và Nguyễn Văn B (thôn T, xã X, huyện Â) mỗi nơi 5 thùng (20 can) để quảng cáo. Đến tháng 5/2024, T và L thu hồi 25 thùng này và hoàn trả 7.800.000 đồng cho chị L1, đồng thời giao nộp cho cơ quan điều tra.
Ngày 17/5/2024, tại kho T, Phòng C Công an tỉnh H phối hợp với Đội Quản lý thị trường số E phát hiện hành vi phạm tội, thu giữ: 1.812 can nước giặt D-nee, 2.960 túi nước xả Hygiene, 969 túi D-nee Organic, nguyên vật liệu, máy móc, hai xe ô tô (biển số 29C-820.32 và 17C-106.29), và hai điện thoại iPhone 12 Pro Max của T và L. Các vật chứng được lưu giữ tại kho Đội Quản lý thị trường số E, xã G, huyện Y.
Kết quả điều tra:
- Cục S trí tuệ xác nhận nhãn hiệu D-nee và Hygiene được bảo hộ tại Việt Nam, không có ủy quyền sản xuất cho Công ty Đ. Công ty I khẳng định không gia công, nhượng quyền cho bất kỳ tổ chức, cá nhân nào tại Việt Nam.
- V1 kết luận sản phẩm giả không cùng loại với hàng thật (chất lỏng, tem nhãn, vỏ thùng). Tem nhãn giả mạo xuất xứ Thái Lan.
- Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Hưng Yên xác định giá trị 1.812 can D-nee là 307.587.000 đồng, 2.960 túi Hygiene là 144.151.632 đồng, tổng cộng 545.482.200 đồng. Giá trị 969 túi D-nee Organic không xác định được do thiếu thông tin.
- T và L thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Các công nhân và nhà cung cấp nguyên liệu (L, G, BS H, Ngân Hà X1, H3) không biết mục đích sản xuất hàng giả, nên không bị xử lý.
- Trách nhiệm dân sự: Công ty I không yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Cáo trạng số 74/CT-VKS-P3 ngày 06/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố Lương Ngọc T và Nguyễn Văn L về tội “Sản xuất hàng giả” theo điểm a khoản 3 Điều 192 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo khai thành khẩn nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố.
Kiểm sát viên đề nghị giữ nguyên nội dung cáo trạng, đề nghị áp dụng: Điểm a khoản 3 Điều 192; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo:
Lương Ngọc T từ 7 năm 06 tháng đến 8 năm tù; Nguyễn Văn L từ 7 năm đến 7 năm 6 tháng; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự không xem xét vì không có yêu cầu; tịch thu các điện thoại; tịch thu 1/2 giá trị xe ô tô; tịch thu các công cụ, phương tiện liên quan đến hành vi phạm tội.
Các bị cáo nhất trí không tranh luận, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi và quyết định tố tụng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên và Kiểm sát viên đã tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố đúng thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, các bị cáo Lương Ngọc T và Nguyễn Văn L khai báo tự nguyện, không có dấu hiệu bị ép cung, nhục hình và không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng hoặc người tiến hành tố tụng. Các chứng cứ, tài liệu được thu thập đầy đủ, bao gồm vật chứng, kết luận giám định, lời khai của các bị cáo và các tài liệu liên quan khác, đảm bảo tính khách quan và hợp pháp. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều tuân thủ đúng quy định pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Lời nhận tội của các bị cáo Lương Ngọc T và Nguyễn Văn L tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, đồng nhất với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập trong hồ sơ vụ án, bao gồm: vật chứng, kết luận giám định của V1, văn bản của Cục S trí tuệ, kết luận định giá, lời khai của những người làm chứng và các tài liệu khác.
Từ đó, có đủ cơ sở kết luận:
Từ tháng 7/2023 đến tháng 5/2024, tại hai địa điểm gồm: kho sản xuất ở thôn Đ, xã Đ, huyện  và kho dán tem, đóng gói tại thôn T, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, Lương Ngọc T đã giữ vai trò chủ mưu, chủ động bàn bạc, thống nhất với Nguyễn Văn L tổ chức sản xuất và tiêu thụ hàng giả mang nhãn hiệu D-nee (thuộc Công ty TNHH N1, Thái Lan) và H2 (thuộc Công ty I1., L2, Thái Lan). Mặc dù biết rõ Công ty TNHH Đ không được các chủ sở hữu nhãn hiệu ủy quyền sản xuất, gia công hoặc phân phối các sản phẩm trên, các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi vi phạm nhằm thu lợi bất chính.
Cụ thể, Lương Ngọc T trực tiếp tổ chức toàn bộ quy trình sản xuất hàng giả, từ việc nghiên cứu mẫu mã hàng thật, thu mua nguyên liệu, hóa chất, tem nhãn giả, đến thuê kho xưởng, tuyển dụng công nhân và điều hành hoạt động sản xuất. T sử dụng cơ sở vật chất của Công ty Đ làm nơi pha chế, chiết rót và đóng gói sản phẩm, sau đó chuyển đến kho Tử Dương để dán tem nhãn và hoàn thiện trước khi đưa ra thị trường tiêu thụ.
Nguyễn Văn L đóng vai trò đồng phạm, tham gia vào quá trình sản xuất, vận chuyển hàng hóa, điều hành công nhân khi T vắng mặt, đồng thời trực tiếp tiêu thụ sản phẩm. Cụ thể, L đã bán 60 can nước giặt D-nee giả cho hộ kinh doanh của chị Nguyễn Thị L1, thu về số tiền 7.800.000 đồng.
Kết quả điều tra xác định, các bị cáo đã sản xuất tổng cộng 1.812 can nước giặt D-nee (trị giá 307.587.000 đồng) và 2.960 túi nước xả vải Hygiene (trị giá 144.151.632 đồng), với tổng giá trị tương đương hàng thật là 545.482.200 đồng.
Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm nghiêm trọng quyền sở hữu trí tuệ của các doanh nghiệp nước ngoài, làm ảnh hưởng đến uy tín, thương hiệu của sản phẩm D-nee và Hygiene trên thị trường Việt Nam, đồng thời gây mất lòng tin của người tiêu dùng đối với các sản phẩm có xuất xứ từ Thái Lan. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố các bị cáo Lương Ngọc T và Nguyễn Văn L về tội “Sản xuất hàng giả” theo điểm a khoản 3 Điều 192 Bộ luật Hình sự là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Cả Lương Ngọc T và Nguyễn Văn L đều có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi sản xuất hàng giả là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm thu lợi bất chính. Hành vi phạm tội có tính chất nghiêm trọng, được tổ chức bài bản, có sự phân công vai trò cụ thể giữa các bị cáo và thực hiện trên quy mô lớn, thể hiện qua số lượng hàng giả sản xuất (gần 5.000 đơn vị sản phẩm) với tổng giá trị tương đương hơn 545 triệu đồng.
Các bị cáo sử dụng phương thức thủ đoạn tinh vi như nghiên cứu chi tiết sản phẩm chính hãng, làm giả tem nhãn mang xuất xứ Thái Lan và tổ chức sản xuất quy mô công nghiệp, sau đó đưa ra thị trường tiêu thụ như hàng thật. Hành vi này không chỉ gây thiệt hại trực tiếp cho các doanh nghiệp bị xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ mà còn tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng và làm suy yếu môi trường cạnh tranh kinh doanh lành mạnh.
Lương Ngọc T giữ vai trò chủ mưu, trực tiếp lên kế hoạch, chỉ đạo, tổ chức và điều hành toàn bộ hoạt động sản xuất, tiêu thụ hàng giả. Nguyễn Văn L là người giúp sức tích cực, thực hiện các công đoạn sản xuất, vận chuyển và tiêu thụ theo chỉ đạo của T, góp phần quan trọng vào việc hoàn thành hành vi phạm tội.
Với tính chất nguy hiểm và hậu quả nghiêm trọng do hành vi gây ra, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với vai trò và mức độ phạm tội của từng bị cáo, nhằm thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Lương Ngọc T và Nguyễn Văn L đều thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa. Các bị cáo đã tự nguyện thu hồi 25 thùng nước giặt D-nee từ các cửa hàng tạp hóa và hộ kinh doanh của chị Nguyễn Thị L1, đồng thời hoàn trả 7.800.000 đồng lợi nhuận bất chính. Ngoài ra, bố mẹ bị cáo T thờ cúng liệt sĩ và bị cáo L có bác ruột là liệt sĩ. Do đó, các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về nhân thân: Cả hai bị cáo Lương Ngọc T và Nguyễn Văn L đều có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng và gia đình ổn định.
[5] Về hình phạt:
Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian đủ dài để cải tạo, giáo dục, đồng thời đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.
- Đối với Lương Ngọc T, với vai trò chủ mưu, tổ chức và điều hành toàn bộ hoạt động sản xuất hàng giả, chịu trách nhiệm chính đối với toàn bộ giá trị hàng giả (545.482.200 đồng), cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc hơn so với L để đảm bảo tính công bằng và tương xứng với mức độ trách nhiệm hình sự.
- Đối với Nguyễn Văn L, với vai trò đồng phạm giúp sức, thực hiện theo chỉ đạo của T, có mức độ tham gia thấp hơn, cần áp dụng mức hình phạt thấp hơn T, nhưng vẫn đảm bảo đủ sức răn đe.
Hình phạt bổ sung: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với động cơ vụ lợi, lẽ ra phải chịu hình phạt bổ sung theo quy định. Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo không có tài sản riêng, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Về biện pháp tư pháp:
- 1.812 can nước giặt D-nee các loại; 2.960 túi nước xả vải Hygiene các loại; 25 thùng nước giặt D-nee; nguyên vật liệu, tem nhãn giả: Đây là hàng giả và công cụ phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy.
- Hai xe ô tô (biển số 29C-820.32 và 17C-106.29): Là phương tiện được sử dụng để vận chuyển hàng giả, tuy nhiên đó là tài sản chung của vợ chồng bị cáo T, chị H (vợ bị cáo T) không biết T sử dụng 02 xe ô tô trên vào mục đích phạm tội nên cần cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước 1/2 giá trị tài sản và trả lại chị Nguyễn Thị H (vợ bị cáo T) 1/2 giá trị;
- Bồn khuấy dung dịch; Máy chiết; Máy hàn nhiệt là vật có giá trị nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước:
- Hai điện thoại iPhone 12 Pro Max của T và L: Là công cụ liên lạc, điều hành hoạt động phạm tội, cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- 969 túi nước giặt D-nee Organic (1400ml): Do không đủ căn cứ định giá và đã được Cơ quan CSĐT chuyển đến Chi cục Quản lý thị trường tỉnh H để xử lý hành chính (công văn số 2165, ngày 19/5/2025), không đặt ra xem xét trong vụ án này.
- Về bồi thường thiệt hại: Công ty TNHH D và Công ty I không yêu cầu bồi thường thiệt hại, do đó không phát sinh nghĩa vụ bồi thường dân sự trong vụ án này.
[7] Về án phí:
Các bị cáo Lương Ngọc T và Nguyễn Văn L bị kết án, do đó phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
[1]. Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố: Các bị cáo Lương Ngọc T và Nguyễn Văn L phạm tội Sản xuất hàng giả.
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 192; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Lương Ngọc T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành hình phạt.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành hình phạt.
[2]. Về vật chứng và biện pháp tư pháp:
Căn cứ Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
* Tịch thu, tiêu hủy:
- Sản phẩm nước giặt mang nhãn hiệu D-nee tổng số: 1.812 can loại 3000ml/can (Nước giặt D-nee Honeystar có tem nhãn và nắp đậy màu hồng: 308 can; Nước giặt D-nee O có tem nhãn và nắp đậy màu xanh lá: 320 can; Nước giặt D-nee lovely Sky có tem nhãn và nắp đậy màu xanh: 580 can; Nước giặt D-nee Yellow Moon có tem nhãn và nắp đậy màu tím: 604 can);
- Sản phẩm nước xả làm mềm vải mang nhãn hiệu Hygiene tổng số: 2.960 túi gồm: Nước xả vải nhãn hiệu Hygiene, vỏ trắng, loại 1300ml gồm: 1.296 túi; Nước xả vải nhãn hiệu Hygiene, vỏ đen, loại 1150ml gồm: 1.664 túi;
- 25 thùng nước giặt D-nee; Nhãn phụ Ghi chữ Hygiene, 0.6 kg; Vỏ túi nước xả vải (trên nhãn ghi chữ Hygiene, loại 1300ml): 80 chiếc; Giấy thử độ pH: Nhãn hiệu Newstar, số lượng 02 gói; Can nhựa: Chưa dán nhãn, trên nắp và đáy can có ghi chữ NEO, Loại 3000ml, số lượng: 288 can; Vỏ can nhựa: Chưa dán nhãn, trên nắp và đáy can có ghi chữ NEO, loại 3000ml, số lượng 840 chiếc; Nắp can nhựa, trên nắp can có ghi chữ NEO: 19kg; Muối TRS: 03 bao; Muối SODIUM SULPHATE ANHYDROUS: 05 bao (mỗi bao 50kg); P chứa dung dịch: Ghi chữ bên ngoài FENTACARE TEP 88, số lượng 01 chiếc; Can chứa dung dịch hương liệu: 23 can (03 can loại 18kg/1can; 20 can loại 25kg/1can (tất cả đã mở nắp và sử dụng dở); P chứa dung dịch: Ghi chữ Texapon N70T, số lượng 07 chiếc; Hóa chất: Ghi chữ MECELLOSE Cellulose Ether, số lượng 01 bao 20 kg; Phi chứa dung dịch: Ghi chữ Alkylbenzen sulfonic mạch thẳng 96% min, số lượng 01 chiếc; Hóa chất: Ghi chữ K NF/FCC, số lượng 01 bao 25 kg; Miếng dán màu: 12kg (mới nhiều màu); Nhãn hàng hóa (ghi chữ Dnee bằng nilon): 116kg; Nhãn phụ ghi chữ D-nee: 10kg; Vỏ túi nước xả vải (trên nhãn ghi chữ Hygiene loại 1150ml: 410 chiếc.
* Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước:
- 1/2 giá trị các xe ô tô gồm: 01 xe ô tô hiệu Kia, BKS 29C-820.32 và 01 xe hiệu TMT BKS 17C-106.29 và 02 giấy đăng ký xe, đặc điểm số 280379 và số 019088. Trả lại chị Nguyễn Thị H (vợ bị cáo T) 1/2 giá trị các xe ô tô gồm: 01 xe ô tô nhãn hiệu Kia, BKS 29C-820.32 và 01 xe hiệu TMT BKS 17C-106.29.
- 01 (một) điện thoại di động; Đặc điểm: điện thoại di động Iphone 12 Promax đã qua sử dụng, màu nâu, số máy: MG8X3LL/A, số MEID: 35157259628015;
- 01 (một) điện thoại di động; Đặc điểm: Iphone 12 Promax, màu nâu, số máy: MG963LL/A, số MEID: 33671611227672;
- Bồn khuấy dung dịch bên trên có motor điện, bằng thép: 04 chiếc;
- Máy chiết: Model: Y1WTD, số lượng 01 chiếc;
- Máy hàn nhiệt: Hiệu YUZHONG, ký hiệu SF-150X, công suất 500W, số lượng 01 chiếc;
(Số lượng, đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 30/6/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên).
[3]. Án phí:
Mỗi bị cáo Lương Ngọc T và Nguyễn Văn L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[4]. Quyền kháng cáo:
Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày. Đối với người có mặt tại phiên tòa, thời hạn tính từ ngày tuyên án; đối với người vắng mặt, thời hạn tính từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Phượng |
9
Bản án số 74/2025/HS-ST ngày 27/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về sản xuất hàng giả
- Số bản án: 74/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Sản xuất hàng giả
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đồng phạm
