|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 74/2025/HS-ST Ngày 26-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ
Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Đức - Thẩm phán Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Văn Sâm
Ông Đặng Ngọc Tân
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Vi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Huyền- Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 55/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2025 đối với:
Bị cáo: Bùi Hữu T; Tên gọi khác: không; Giới tính: nam;
Sinh ngày 23/3/1993, tại xã Q (nay là xã T), huyện Q, tỉnh Thái Bình;
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện Q, tỉnh Thái Bình;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Bùi Hữu Đ, sinh năm 1959; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị V, sinh năm 1959; Vợ: Đào Thị H, sinh năm 2005; Có 01 con, sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Quyết định số 202/QĐ-XPVPHC, ngày 25/9/2014 của Công an huyện Q, tỉnh Thái Bình, xử phạt vi phạm hành chính 1.000.000 đồng về hành xâm hại sức khỏe người khác, chấp hành xong ngày 29/9/2014; Bị bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp từ ngày 31/8/2024 đến ngày 09/9/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
Người làm chứng:
- -Anh Ngô Duy D, sinh năm 2000;
- -Anh Ngô Duy H1, sinh năm 2000;
- -Anh Trần Viết T1, sinh năm 1996;
Đều cư trú: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.
Chị Đào Thị H, sinh năm 2005;
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện Q, tỉnh Thái Bình
(Tại phiên tòa có mặt bị cáo; Vắng mặt người làm chứng).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bị cáo Bùi Hữu T là chủ tiệm cắt tóc. Đầu tháng 8/2024, qua mạng xã hội quảng cáo website s689.com có nhiều trò đánh bạc trực tuyến (online) được thua bằng tiền nên T đã sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, lắp sim mạng Viettel, số thuê bao 0977.733.xxx, kết nối internet (4G), nhập đường link, hiển thị ứng dụng “s666.me”, vào mục đăng ký tạo tài khoản đăng nhập "buinam202393", mật khẩu “Mk1412230538”, tích nhớ tài khoản và mật khẩu. Ứng dụng có nhiều hình thức đánh bạc như xổ số, luckywin, casino, nổ hũ, bắn cá, thể thao...; xổ số có miền B, wingo, miền N....; luckywin có tài xỉu, tải xỉu MD5, xóc đĩa... Sau khi tìm hiểu, T chọn đánh bạc tài xỉu, tải xỉu MD5, xóc đĩa và xổ số miền B với cách thức, tỷ lệ cá cược như sau: Tài xỉu, tài xỉu MD5 cách chơi giống nhau, sử dụng 01 bát, 01 đĩa, 03 quân xúc xắc, mỗi quân 06 mặt (mỗi mặt có các chấm từ 01 đến 06), mỗi ván có 50 giây để cược tiền vào cửa “tài” hoặc “xỉu”, kết thúc 50 giây mở kết quả, “tài” tổng điểm trên mặt 03 quân xúc xắc từ 11 đến 18, “xỉu” tổng số điểm trên mặt 03 quân xúc xắc từ 03 đến 10, thắng khi cửa đặt trùng với kết quả ván bạc và được số tiền cược tương ứng tỉ lệ 1: 0,98, thua ngược lại và mất số tiền đã cược. Xóc đĩa sử dụng 01 bát, 01 đĩa, 04 đồng xu, mỗi đồng xu 02 mặt (01 mặt đỏ và 01 mặt trắng), mỗi ván bạc có 60 giây để cược tiền vào cửa chẵn hoặc lẻ, kết thúc 60 giây mở bát tính kết quả, chẵn 02 mặt đỏ và 02 mặt trắng hoặc 04 mặt đỏ hoặc 04 trắng, lẻ 01 mặt đỏ và 03 mặt trắng hoặc 03 mặt đỏ và 01 mặt trắng, thắng khi cửa đặt trùng với kết quả ván bạc và được số tiền cược tương ứng tỉ lệ 1: 0,98, thua thì mất số tiền đã cược. Xổ số miền B việc tính thắng thua, kết thúc mỗi lần chơi căn cứ kết quả xổ số miền B mở thưởng 18 giờ 15 phút cùng ngày với hình thức đề, ba càng, số đầu đuôi.... Đối với đề, ba càng, người đánh bạc lựa chọn số có 2, 3 số bất kỳ để cược, số thắng cược là số có 2, 3 số trùng với 2, 3 số cuối giải đặc biệt của kết quả xổ số miền Bắc cùng ngày, thắng đề được số tiền cược tương ứng tỉ lệ 1: 99,5, thắng ba càng được số tiền cược tương ứng tỉ lệ 1:980, thua mất số tiền cược. Số đầu đuôi, người đánh bạc dự đoán số đầu (số hàng chục) hoặc số cuối (hàng đơn vị) giải đặc biệt kết quả xổ số miền B cùng ngày để cược, thắng đầu hoặc đuôi được số tiền cược tương ứng tỉ lệ 1: 99,5, thua mất số tiền cược. Thứ đặt chế độ kết nối thường xuyên, không đăng xuất tài khoản, thông tin đánh bạc được lưu giữ 30 ngày.
Từ ngày 09/8/2024 đến ngày 30/8/2024, T nhiều lần vào mục “của tôi” thao tác theo chỉ dẫn đã 61 lần sử dụng số tài khoản 19037806003011 của cá nhân mở ở Ngân hàng TMCP K (T2) và 02 lần sử dụng số tài khoản 15001013926839 mở ở Ngân hàng TMCP H2 (M) liên kết đến nhiều số tài khoản ở ngân hàng khác nhau do phần mềm (nhà cái) cung cấp nạp số tiền 1.684.800.000 đồng (lần nạp thấp nhất 100.000 đồng, cao nhất 100.000.000 đồng) với giá trị quy đổi 1:1 (1.000 Việt Nam đồng tương đương 1.000 đồng tiền cược) vào tài khoản đánh bạc. Từ 15 giờ 04 phút 45 giây ngày 09/8/2024 đến18 giờ 10 phút 40 giây ngày 30/8/2024, Thứ liên tiếp cá cược 971 ván tài xỉu, 618 ván tài xỉu MD5 và 09 ván xóc đĩa, cụ thể: 971 ván tài xỉu, mỗi ván cược từ 8.248 đồng đến 98.383.069, số tiền cược 7.917.727.160 đồng, thắng cược 3.890.868.206; 618 ván tài xỉu MD5, mỗi ván cược từ 50.000 đồng đến 100.000.000 đồng, số tiền cược 2.150.820.000 đồng, thắng cược 985.772.200 đồng; 09 ván xóc đĩa, mỗi ván cược từ 10.000 đồng đến 3.000.000 đồng, số tiền cược 11.510.000 đồng, thắng cược 4.419.800 đồng. Như vậy, số tiền Thứ đánh bạc bằng hình thức tài xỉu, tài xỉu MD5, xóc đĩa từ khi đăng nhập đến ngày 30/8/2025 là 14.961.117.366 đồng (tiền cược 10.080.057.160 đồng, thắng cược 4.881.060.206 đồng). Ngoài đánh bạc bằng hình thức tài xỉu, tài xỉu MD5, xóc đĩa ra Thứ 03 lần (ngày) cược đề, đề ba càng, số đầu đuôi, cụ thể: Ngày 09/8/2024, cược số đầu 0, 1, 2, 3, 4 số tiền 3.500.000 đồng; cược đề 09 số tiền 100.000 đồng; cược đề 00, 11, 22, 33, 44, 93 số tiền 180.000 đồng; thắng cược số đầu 4 số tiền 3.465.000 đồng; số tiền đánh bạc 7.245.000 đồng. Ngày 13/8/2024, cược số đầu 0, 1, 2, 3, 4 số tiền 1.000.000 đồng; thắng cược số đầu 2 số tiền 990.000 đồng; số tiền đánh bạc 1.990.000 đồng. Ngày 27/8/2024, cược đề 3 càng 337 số tiền 100.000 đồng; cược đề đầu 37 số tiền 20.000 đồng, thua cược 120.000 đồng, số tiền đánh bạc 120.000 đồng. Ngày 30/8/2024, cược đề 58, 85, 15, 51, 37, 75, 99 số tiền 700.000 đồng; cược đề 20 số tiền 20.000 đồng; cược đề 14, 41 số tiền 200.000 đồng, thua cược 920.000 đồng, số tiền đánh bạc 920.000 đồng. Quá trình đánh bạc Thứ đã 24 lần rút tổng số tiền thắng bạc 1.435.900.000 đồng về tài khoản cá nhân ở Ngân hàng TMCP K dùng để nạp lại đánh bạc, trả nợ tiền vay đánh bạc và tiêu dùng cá nhân hết, số dư ở tài khoản đánh bạc còn 124.517 đồng.
Ngày 31/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q tiếp nhận tố giác của quần chúng nhân dân, đã triệu tập Thứ làm việc, quản lý 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu vàng đồng, sim số thuê bao 0977733593. Ngày 14/4/2025, T đã nhờ vợ là Đào Thị H nộp lại số tiền đánh bạc 6.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
Tại Bản cáo trạng số 63/CT-VKSQP ngày 23/5/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ đã truy tố bị cáo T về tội “Đánh bạc” quy định tại điểm điểm b, c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
- Tại phiên tòa: Bị cáo T khai nhận hành vi phạm tội như trong giai đoạn điều tra, truy tố và đúng như nội dung mô tả trong bản Cáo trạng. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn, hối cải.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm tại phiên tòa: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo T và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “đánh bạc”; Áp dụng điểm b, c khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo T từ 04 năm 06 tháng tù đến 04 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được khấu trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 31/8/2024 đến 09/9/2024. Phạt bổ sung bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000đồng để nộp ngân sách Nhà nước. Về xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự đề nghị tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu vàng đồng; tịch thu tiêu hủy xác sim lắp theo điện thoại; buộc bị cáo phải nộp lại số tiền do phạm tội mà có 1.435.900.000 đồng để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Số tiền 6.000.000đồng bị cáo đã nộp tại Chi cục thi hành án huyện Quỳnh Phụ được chuyển thành tiền thi hành án; bị cáo còn phải nộp lại 1.429.900.000 đồng nộp ngân sách nhà nước. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Trong phần tranh luận:
+ Bị cáo có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên: Bị cáo phạm tội lần đầu, hành vi phạm tội của bị cáo không làm ảnh hưởng đến ai nên mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là quá cao.
+ Ý kiến tranh luận đối đáp của đại diện Viện kiểm sát: Bị cáo có nhân thân xấu, tội phạm bị cáo thực hiện thuộc loại tội phạm nghiêm trọng, có khung hình phạt từ 3 năm đến 7 năm, bị cáo bị áp dụng 1 tình tiết tăng nặng, số tiền đánh bạc lớn 14.968.362.366 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự công cộng do Nhà nước quản lý nên mức án đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp với quy định tại Điều 50 Bộ luật Hình sự.
- Bị cáo có lời nói sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo, xét thấy:
[2.1] Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng, phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát và còn được chứng minh bằng các tài liệu như: Biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử; biên bản làm việc kiểm tra kèm bản ảnh trích xuất dữ liệu đánh bạc từ điện thoại di động quản lý của Bùi Hữu T do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập hồi 10 giờ, 10 giờ 30 phút, 10 giờ 45 phút ngày 31/8/2024; 13 giờ 15 phút ngày 23/10/2024 tại Công an huyện Q, tỉnh Thái Bình (bút lục số 03;154 - 872); Công văn số 556/2024/TBH/TCB, ngày 01/10/2024 của Ngân hàng TMCP K (T2) chi nhánh T3 và thông tin đối ứng số tài khoản 19037806003011 của Bùi Hữu T từ ngày 01/8/2024 đến 31/8/2024, đã phát sinh giao dịch nạp, rút tiền đánh bạc với 66 số tài khoản của 42 cá nhân và 02 tổ chức mở tại Ngân hàng T2, Ngân hàng TMCP Đ1 (B), Ngân hàng TMCP Q (MB), Ngân hàng TMCP C (V1), Ngân hàng TMCP A (A1), Ngân hàng TMCP N (V2); Ngân hàng TMCP S (S1), Ngân hàng TMCP V3 (V4), Ngân hàng TMCP Á (A2) (bút lục số 121 - 126); Công văn số 13/2024/CV-MSBTHB, ngày 10/10/2024 của Ngân hàng TMCP H3 chi nhánh T3 cung cấp thông tin số tài khoản 15001013926839 của Bùi Hữu T và bảng sao kê tài khoản từ ngày 01/8/2024 đên 31/8/2024 (bút lục số 137 - 153); Biên bản hạch toán tiền đánh bạc của Bùi Hữu T do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q lập hồi 15 giờ ngày 31/8/2024 và 07 giờ 15 phút ngày 25/10/2024 tại Công an huyện Q, tỉnh Thái Bình (bút lục số 1184 - 1238); Kết luận giám định số 8090/KL- KTHS, ngày 26/11/2024 của V5 Bộ C1 (bút lục số 80); Biên bản làm việc mở, kiểm tra, khai thác nội dung và bản ảnh trích xuất dữ liệu trong đĩa CD-R kèm theo kết luận giám định (bút lục số 82 - 111); Công văn số 3637/VNNIC, ngày 07/10/2024 của Trung tâm I (bút lục số 77); Biên bản kết quả số số kiến thiết miền B mở thưởng hồi 18 giờ 15 phút các ngày 09/8/2024, 13/8/2024, 27/8/2024 và 30/8/2024 do Công ty TNHH MTV X (bút lục số 116 - 119) cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
[2.2] Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận:
Từ 15 giờ 04 phút 45 giây ngày 09/8/2024 đến 18 giờ 10 phút 40 giây ngày 30/8/2024, tại xã T, huyện Q, tỉnh Thái Bình, bị cáo Bùi Hữu T có hành vi dùng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu vàng đồng, sim số thuê bao 0977733593, sử dụng mạng internet (4G), lập tài khoản đánh bạc “buinam202393”, mật khẩu “Mk1412230538”, 63 lần nạp tổng số tiền 1.684.800.000 đồng từ các tài khoản của cá nhân mở tại Ngân hàng TMCP K và Ngân hàng TMCP H2 vào các tài khoản ngân hàng do “nhà cái” cung cấp để đánh bạc trực tuyến (online) qua mạng viễn thông được thua bằng tiền dưới hình thức tài xỉu, tài xỉu MD5, xóc đĩa trên ứng dụng “s666.me” của website "s689.com” với số tiền đánh bạc 14.961.117.366 đồng (1598 ván cược, số tiền cược 10.080.057.160 đồng, số tiền thắng cược 4.881.060.206 đồng). Ngày 09/8/2024, T còn thực hiện hành vi đánh bạc trực tuyến bằng hình thức xổ số miền B với số tiền đánh bạc 7.245.000 đồng (số tiền cược đề, số đầu 3.780.000 đồng, số tiền thắng cược 3.465.000 đồng). Thứ đã 24 lần rút tổng số tiền thắng bạc 1.435.900.000 đồng về tài khoản cá nhân ở Ngân hàng TMCP K dùng để nạp lại tài khoản đánh bạc, trả nợ tiền vay đánh bạc và tiêu dùng cá nhân hết. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Đánh bạc”, được quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 321. Tội đánh bạc
1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;
c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quản lý của nhà nước về trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội và dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy Hội đồng xét xử cần phải lên một mức án phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội cũng như việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội hai lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tự nguyện nộp lại một phần số tiền thu lời bất chính. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã xử phạt vi phạm hành chính về hành xâm hại sức khỏe người khác, tuy bị cáo đã chấp hành xong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng cho thấy bị cáo chưa chấp hành tốt quy định của pháp luật. Đây cũng là căn cứ quan trọng để Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình.
[5] Về quyết định hình phạt: Từ những phân tích nêu trên, đối chiếu với các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như mức án đề nghị của đại diện Viện kiểm sát thì mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội và phù hợp, tương xứng với vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và bảo đảm mục đích hình phạt nói chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo phạm tội vì mục đích thu lợi bất chính nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
[6] Hành vi đánh bạc bằng hình thức xổ số miền B của bị cáo T các ngày 13, 27 và 30/8/2024 đều có số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng. Thứ chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị kết án về tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc nên Công an tỉnh T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng pháp luật.
Website "s689.com” hoạt động dưới tên miền quốc tế s689.com dưới đuôi .com do Tổ chức quốc tế V6 cấp và quản lý, tên miền đăng ký trực tiếp với tổ chức quốc tế ở nước ngoài và do tổ chức quốc tế quản lý, sử dụng địa chỉ IP quốc tế, không thuộc quản lý của Việt Nam, VNNIC không có thông tin để cung cấp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý được đối với tổ chức cũng như cá nhân điều hành.
Có 03 cá nhân, tổ chức là chủ 03 tài khoản ngân hàng có giao dịch nhận tiền đánh bạc và rút tiền thắng bạc không biết, không liên quan hành vi đánh bạc của bị can Bùi Hữu T. Còn 52 tài khoản ngân hàng của 40 cá nhân và 01 tổ chức; 11 số tài khoản chưa xác định thông tin chủ tài khoản, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xác minh, tra cứu thông tin, ủy thác điều tra nhưng chưa có kết quả do hết thời hạn điều tra nên tách ra để tiếp tục điều tra, xác minh theo quy định của pháp luật.
Số tiền Bùi Hữu T nạp đánh bạc ngoài nguồn tiền của cá nhân Thứ có vay (không lãi xuất) và đã trả Ngô Duy D 174.500.000 đồng, Ngô Duy H1 53.000.000 đồng và Trần Viết T1 16.150.000 đồng. Quá trình điều tra xác định D, H1, T1 không biết mục đích Thứ vay tiền để sử dụng đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã không xử lý là phù hợp.
[7] Về vật chứng vụ án:
Số tiền 1.435.900.000 đồng là tiền bị cáo thu lợi bất chính nên cần tuyên buộc bị cáo phải nộp lại để tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Số tiền 6.000.000 đồng bị cáo T đã nộp ngày 14/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình được chuyển thành tiền thi hành án. Bị cáo còn phải nộp lại 1.429.900.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước.
Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu vàng đồng, sim số thuê bao 0977733593 bị cáo sử dụng để phạm tội nên cần tịch nộp ngân sách Nhà nước. Xác sim lắp theo chiếc điện thoại cần tịch thu để tiêu hủy là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố bị cáo Bùi Hữu T phạm tội “Đánh bạc”.
- - Áp dụng điểm b, c khoản 2; Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Hữu T 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án được khấu trừ thời gian tạm giữ 09 ngày (từ ngày 31/8/2024 đến ngày 09/9/2024).
- - Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự phạt bổ sung bị cáo Thứ 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước.
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều
106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu vàng đồng .
- - Tuyên tịch thu để tiêu hủy 01 xác sim điện thoại lắp trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu vàng đồng .
- - Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 1.435.900.000đồng để nộp ngân sách Nhà nước. Bị cáo đã nộp được 6.000.000đồng đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình (theo biên lai ngày 14/4/2025) được chuyển thành tiền thi hành án. Bị cáo còn phải nộp 1.429.900.000 đồng nộp ngân sách nhà nước.
(Vật chứng trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ; Số tiền 6.000.000 đồng bị cáo T đã nộp theo biên lai ngày 14/4/2025 hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ đang quản lý).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ NGUYỄN MINH ĐỨC |
Bản án số 74/2025/HS-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự - tội đánh bạc
- Số bản án: 74/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Bùi Hữu T phạm tội “Đánh bạc”.
