|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 74/2025/HS-ST Ngày: 23 - 5 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hòa.
Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Minh Thu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Văn Luận, ông Trương Ngọc Cường và bà Nguyễn Thị Bẩy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Lường Văn C, sinh năm 2001 tại Điện Biên; nơi ĐKHKTT: bản Khén, xã X, huyện M, tỉnh Điện Biên; chỗ ở: bản X, xã B, huyện M, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: lao động tự do; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; con ông Lường Văn T (đã chết) và bà Lường Thị T1, sinh năm 1980; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.
- Nguyễn Tiến L, sinh năm 1989 tại Bắc Giang; nơi ĐKHKTT: tổ dân phố C, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: lao động tự do; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 11/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Hữu S, sinh năm: 1962 và bà Thân Thị H, sinh năm 1967; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ là Nông Thị T2, sinh năm 1992 (đã ly hôn), con: có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không.
- + Ngày 16/10/2006, UBND huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang ra Quyết định đưa vào Trường G, thời hạn 24 tháng. Chấp hành xong quyết định ngày 01/5/2008.
- + Ngày 25/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B khởi tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại Khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ hàng cấm” quy định tại khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.
- Hà Văn H1, sinh năm 1996 tại Lạng Sơn; nơi ĐKHKTT: thôn X, xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: lao động tự do; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Nùng; tôn giáo: Không; con ông Hà Văn T3, sinh năm: 1974 và bà Hoàng Thị H2, sinh năm 1975; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.
- Lò Văn K, sinh năm 1998 tại Điện Biên; nơi ĐKHKTT: bản Vánh III, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: lao động tự do; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; con ông Lò Văn D, sinh năm: 1967 và bà Tòng Thị T4, sinh năm 1970; gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ tư; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.
- Quàng Văn Q, sinh năm 2000 tại Điện Biên; nơi ĐKHKTT: bản Vánh II, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: lao động tự do; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 8/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; con ông Quàng Văn K1, sinh năm: 1971 và bà Quàng Thị X, sinh năm 1973; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; vợ, con: chưa có; tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/11/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt.
Nhân thân:
Bị cáo đang bị tạm giam theo Quyết định tạm giam của Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/8/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/8/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt.
Tiền án: Bản án hình sự số 33/2022/HS-ST ngày 19/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên xử phạt Q 14 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/02/2023.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/8/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt.
* Người bào chữa cho các bị cáo (do chỉ định):
- - Người bào chữa cho bị cáo Chung: Luật sư Nguyễn Văn V – Công ty L3 – Đoàn Luật sư tỉnh B. Có mặt.
- - Người bào chữa cho bị cáo L: Luật sư Nguyễn Thị N – Công ty L4 – Đoàn Luật sư tỉnh B. Có mặt.
- - Người bào chữa cho bị cáo H1: Luật sư Nguyễn Thanh B – Văn phòng L5 – Đoàn Luật sư tỉnh B. Có mặt.
- - Người bào chữa cho bị cáo K: Luật sư Nguyễn Thị H3 – Công ty L6 – Đoàn Luật sư tỉnh B. Có mặt.
- - Người bào chữa cho bị cáo Q: Luật sư Phan Văn T5 – Văn phòng L7 cùng cộng sự – Đoàn Luật sư tỉnh B. Có mặt.
* Người chứng kiến:
- Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1957; trú tại: Khu phố Y, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Huy T6, sinh năm 1985; trú tại: Khu đô thị B, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 00 phút ngày 01/8/2024, tại phòng 501 quán M (quán S1) thuộc khu đô thị B, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh B phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố T, tỉnh Bắc Ninh tiến hành kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang Hà Văn H1, sinh năm 1996, HKTT: thôn X, xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn có hành vi tàng trữ trái phép 01 túi nilon chứa chất ma túy. Vật chứng thu giữ:
- + 01 túi nilon màu xanh, bên trong có 01 hộp giấy màu đen, tiếp đến là 01 túi nilon màu xanh bên trong có 01 túi nilon màu trắng được quấn ngoài bằng băng dính màu đen, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng do Hiện tự nguyện giao nộp. Hiện khai nhận chất tinh thể màu trắng bên trong túi nilon màu trắng được quấn ngoài bằng băng dính màu đen là ma túy “Đá” (Methamphetamine) của Hiện, tàng trữ mục đích để bán kiếm lời.
Ngoài ra, lực lượng Công an còn thu giữ của Hiện 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh, bên trong lắp sim số 0383.136.937.
Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ, niêm phong túi nilon màu trắng được quấn ngoài bằng băng dính màu đen, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng vào một hộp giấy trước sự chứng kiến của ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1957, HKTT: khu phố Y, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh và anh Nguyễn Huy T6, sinh năm 1985, HKTT: khu đô thị B, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh theo quy định.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Hiện tại phòng 501 quán M, lực lượng Công an thu giữ tại nền nhà trong phòng: 01 chai nhựa màu trắng, có nắp màu xanh, trên nắp chai có gắn 02 ống hút nhựa màu hồng, đầu ống hút có giấy màu bạc (coóng) và 01 bật lửa ga màu đỏ.
Ngày 01/8/2024, tại Cơ quan CSĐT Công an thành phố T, Quàng Văn Q, sinh năm 2000, HKTT: bản Vánh 2, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên đầu thú, khai nhận túi nilon chứa ma túy mà lực lượng Công an thu giữ của Hiện là của Lò Văn K, sinh năm 1998, HKTT: bản Vánh III, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên. Quyết tự nguyện giao nộp cho lực lượng Công an: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng, bên trong lắp sim số 0787.425.576 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 4G màu đen, bên trong lắp sim số 0785.642.920.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Q tại phòng 204 quán M, lực lượng Công an không phát hiện và thu giữ gì liên quan đến ma túy.
Ngày 19/8/2024, Lò Văn K đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đầu thú, khai nhận hành vi bán ma túy cho H1. Kim trình bày số ma túy trên là của Lường Văn C, sinh năm 2001, HKTT: bản Khén, xã X, huyện M, tỉnh Điện Biên nhờ K bán hộ và giao nộp cho lực lượng Công an 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphong 11 không lắp sim. Khám xét khẩn cấp nơi ở của K tại bản Vánh III, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên, lực lượng Công an không phát hiện và thu giữ gì liên quan đến ma túy.
Ngày 10/11/2024, Lường Văn C đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đầu thú, khai nhận hành vi nhờ K bán ma túy và bảo Q mang số ma túy trên bán cho Hiện. C trình bày số ma túy trên do Nguyễn Tiến L, sinh năm 1989, HKTT: tổ dân phố C, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang đặt mua của C nhưng sau đó L không mua.
Trên cơ sở Quyết định trưng cầu giám định chất ma túy của Cơ quan CSĐT Công an thành phố T, tại bản Kết luận giám định số 1820/KL-KTHS ngày 03/8/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh B, kết luận:
“Chất tinh thể màu trắng bên trong 01 (một) túi nilon màu trắng được quấn ngoài bằng băng dính màu đen gửi giám định có khối lượng là 733,800 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine”.
Quá trình điều tra, xác định:
Đầu tháng 7/2024, Lường Văn C đến nhà của Nguyễn Tiến L ở Tổ dân phố C, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang chơi. Tại đây, L nói với C có ma túy “Đá” không bán cho L 01 “quả”. C nói 01 “quả” ma túy “Đá” giá 180 triệu đồng thì L đồng ý mua.
Sau khi thỏa thuận với L, C gọi điện cho Vàng A T7, sinh năm 2001, HKTT: bản P, xã B, huyện M, tỉnh Điện Biên hỏi mua 01 “quả” ma túy “Đá”. T7 đồng ý bán cho C với giá 90 triệu đồng. C đưa tiền mặt cho Trần Ngọc X1, sinh năm 1999, HKTT: thôn G, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang (làm nghề dịch vụ chuyển tiền) để chuyển số tiền 90 triệu đồng từ tài khoản Ngân hàng M1 số 0766379799 của X1 vào tài khoản Ngân hàng M1 số 0812959015 của Vàng A T7 vào ngày 03/7/2024, mục đích trả tiền mua ma túy trước cho A T7. Việc C nhờ X1 chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng của X1 đến tài khoản ngân hàng của A T7, C không nói cho X1 biết mục đích trả tiền mua ma túy của A T7.
Do đã thỏa thuận việc mua ma túy với C, trong tháng 7/2024, L đã 08 lần chuyển tiền từ tài khoản Ngân hàng M1 số 0944444232 của L vào các tài khoản Ngân hàng M1 số 0902713162 và Ngân hàng T8 số [...] của C, mỗi lần từ 05 triệu đồng đến 20 triệu đồng, tổng cộng 100 triệu đồng để đặt mua ma túy.
Ngày 29/7/2024, A T7 thông báo với C đã có ma túy, C nói A T7 chuyển ma túy về địa chỉ Cây xăng T thuộc phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang cho C, đồng thời cho A T7 hai số điện thoại 0787.425.xxx và 0785.642.920 (là số điện thoại của Quàng Văn Q) và bảo A T7 khi nào ma túy về thì điện vào các số điện thoại trên sẽ có người ra nhận.
Sau khi đã thống nhất địa điểm nhận ma túy với A T7, do có mối quan hệ quen biết với Quàng Văn Q và Lò Văn K, C gọi điện cho Q và K rủ Q và K xuống Bắc Giang bán ma túy cùng C, Q và K đồng ý. Ngày 29/7/2024, Q đến Bắc Giang, C đón Q và đưa vào nhà L. Lực sắp xếp nơi ăn, ngủ cho Q tại phòng đầu tiên trên tầng hai nhà mình ở phía sau UBND phường T. Ngày 30/7/2024, K đến Bắc Giang, C đón K, cả hai cùng nghỉ tại quán K4 ở phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Khoảng 13 giờ ngày 31/7/2024, A T7 gọi điện cho C, nói ma túy đã gửi đến Cây xăng T nên C gọi điện cho Q bảo Q ra cây xăng T9 nhận ma túy mang vào bán cho L. Sau đó, Q nhận được điện thoại của xe khách gọi Quyết ra nhận thùng hàng. Q đi ra cây xăng T9, nhận thùng hàng, bóc vỏ bọc bên ngoài bỏ đi, cầm hộp giấy màu đen bên trong có túi nilon chứa ma túy “Đá” mang về nhà của L đưa cho L. L nhận hộp giấy tại ở phòng Quyết đang ở trên tầng hai, mở hộp giấy màu đen ra lấy một ít ma túy trong túi nilon bên trong để vào tờ giấy bạc đốt cho ma túy tan thành khói hít thử. Thử ma túy xong, L nói với Q ma túy không đảm bảo chất lượng, không mua rồi L cầm hộp giấy màu đen chứa ma túy mang đi cất. Q gọi điện cho C báo việc L thử ma túy và nói ma túy kém chất lượng nên không đồng ý mua. Sau khi được Q thông báo việc L không mua ma túy, C nói với K tìm xem có ai mua “quả” ma túy “Đá” thì bán. K đồng ý.
Hà Văn H1 làm nhân viên dọn phòng của quán M, được chủ quán sắp xếp ăn, ngủ tại phòng 501 của quán. Quá trình làm việc tại quán, Hiện quen biết với Lò Văn K do trước đó cả hai cùng là nhân viên của quán M (K đã nghỉ việc trước đó). Tối ngày 31/7/2024, K sử dụng tài khoản Messenger tên “Mai Trọng N1” liên lạc với tài khoản Messenger tên “Hiện Remixx” của Hiện. K nói với Hiện việc K đang có một “quả” ma túy “Đá” bán, nếu Hiện có người mua, K sẽ thu về 130 triệu đồng, số tiền chênh lệch còn lại Hiện được hưởng (tức Hiện bán cho người khác cao hơn 130 triệu đồng thì Hiện được hưởng). Hiện đồng ý mua ma túy của K, mục đích bán để hưởng lợi và bảo K mang “quả” ma túy “Đá” đến quán M cho H1.
Sau khi đã thỏa thuận bán ma túy cho H1, K liên lạc với tài khoản Messenger tên “Văn Quyết” của Quàng Văn Q, K nói với Q mang ma túy từ phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang đến thành phố T, tỉnh Bắc Ninh giao cho Hà Văn H1 rồi mang tiền bán ma túy về cho K. Q đồng ý. Kim cho số điện thoại của Hiện để Q liên lạc, đồng thời, liên lạc với H1 nói có bạn của K là Quàng Văn Q mang ma túy đến cho Hiện.
Khoảng 20 giờ 10 phút ngày 31/7/2024, Q gọi điện đến số điện thoại của H1 thì H1 bảo Q mang ma túy “Đá” đến quán M thuộc khu đô thị B, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh cho Hiện. Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 01/8/2024, Q liên lạc với C hỏi ma túy ở đâu để mang đi giao cho Hiện. C liên lạc với L, bảo L đưa hộp giấy màu đen bên trong có túi nilon chứa ma túy “Đá” cho Q. L đồng ý giao lại hộp giấy màu đen chứa “quả” ma túy “Đá” mà chiều ngày 31/7/2024, Q bán cho L nhưng L không mua. Sau khi nhận “quả” ma túy “Đá” từ L, Q thuê taxi của 01 người không quen biết đi đến quán M theo địa chỉ Hiện đã gửi cho trước đó. Khoảng 03 giờ 10 phút ngày 01/8/2024, Q đến quán M và gọi điện cho H1 xuống cửa đón. Hiện đón Q và dẫn Q lên phòng 501 của quán M. Tại phòng 501, Q để túi nilon chứa hộp giấy ở giữa phòng và cùng Hiện mở túi nilon ra thì thấy bên trong có 01 hộp giấy màu đen, tiếp đến là 01 túi nilon màu xanh bên trong có 01 túi nilon màu trắng được quấn ngoài bằng băng dính màu đen, bên trong túi nilon màu trắng chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy “Đá”. Hiện nhận túi nilon chứa ma túy từ Q, lấy một ít ma túy để sử dụng qua “coóng” và nói với Q chờ bán được ma túy sẽ trả tiền. Sau khi H1 nhận túi nilon chứa ma túy (quả ma túy “Đá”), Q gọi điện cho K nói đã giao ma túy cho H1 nhưng chưa lấy được tiền thì K bảo Q chờ, khi nào H1 đưa cho tiền mua ma túy thì cầm về cho K. Sau đó, Hiện sắp xếp cho Q nghỉ ở phòng 204 của quán M để đợi lấy tiền bán ma túy.
Do không tìm được người mua ma túy nên Hiện liên lạc với K, đặt vấn đề hạ giá bán “quả” ma túy là 100 triệu đồng. K đồng ý giá bán ma túy là 100 triệu đồng và nói với Hiện sau khi bán được ma túy, nếu có tiền mặt thì đưa cho Q cầm về cho K hoặc chuyển tiền vào tài khoản Ngân hàng T10 số 84978978888 của K. Sau đó, K báo cho Q biết giá bán “quả” ma túy là 100 triệu đồng để Q nhận 100 triệu đồng tiền bán ma túy từ Hiện. Hồi 14 giờ 00 phút ngày 01/8/2024, khi Hiện đang cất giữ số ma túy trên để tìm người mua ma túy thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ ma túy như đã nêu trên.
Xác minh tại thôn G, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, xác định: Trần Ngọc X1 hiện không có mặt tại địa phương, đi đâu, làm gì gia đình và địa phương không nắm được.
Xác minh tại bản Pú Nen, xã B, huyện M, tỉnh Điện Biên xác định: Vàng A T7 hiện không có mặt tại địa phương, đi đâu, làm gì gia đình và địa phương không nắm được.
* Kết quả kiểm tra các điện thoại di động và tra cứu thông tin thuê bao của các bị cáo
- - Kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax lắp sim số 0878.425.567 của Q, phát hiện: Tại ứng dụng Messenger, tài khoản của Q là “Văn Quyết” và tài khoản của K là “Mai Trọng N1”. Tài khoản “Văn Quyết” và tài khoản “Mai Trọng N1” có nhiều liên lạc tối, đêm ngày 31/7/2024 và ngày 01/8/2024. Quyết trình bày nội dung các liên lạc này là K bảo Q mang ma túy đến bán cho Hiện.
- Tại mục cuộc gọi, trong các ngày 31/7/2024 và 01/8/2024, có nhiều cuộc gọi đi và đến giữa số điện thoại của Q với số điện thoại 0383.136.xxx, Q trình bày là số điện thoại của H1, Q liên lạc để mang ma túy đến bán cho Hiện.
- - Kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 4G lắp sim số 0785.642.920 của Q, phát hiện: Tại mục danh bạ, Q lưu số 0344.141.813 là “T h”, Q trình bày là số điện thoại của K. Không phát hiện dữ liệu liên quan đến ma túy.
- - Kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax lắp sim số 0383.136.937 của Hiện, phát hiện: Tại ứng dụng Messenger, trong các ngày 31/7/2024 và 01/8/2024, có nhiều cuộc gọi, tin nhắn trao đổi việc mua bán ma túy từ tài khoản của H1 là “Hiện Remixx” với tài khoản “Mai Trọng N1”, H1 trình bày là tài khoản của K.
- Tại mục cuộc gọi, ngày 31/7/2024, có nhiều cuộc gọi giữa Hiện và số 0344.141.813 lưu tên là “Em K2”, Hiện trình bày là số điện thoại của K. Trong các ngày 31/7/2024 và 01/8/2024, có nhiều cuộc gọi giữa Hiện và số 0878.425.567, Hiện trình bày là số điện thoại của Q. Hiện liên lạc để mua ma túy.
- - Kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Iphone không lắp sim của K, phát hiện: Tại mục danh bạ, Kim lưu số điện thoại 0902.713.xxx của C là “Chung Db”, số điện thoại 0367.746.xxx của L là “Anh L”. Các mục khác không phát hiện dữ liệu liên quan đến ma túy.
- - Các số thuê bao 0878.425.567 và 0383.136.937, Q trình bày là của Q mua và sử dụng đã được kích hoạt thông tin cá nhân của người khác. Số thuê bao 0344.141.813 đăng ký thông tin cá nhân của Lò Văn K. Số thuê bao 0383.136.937 đăng ký thông tin cá nhân của Hà Văn H1. Số thuê bao 0367.746.181 đăng ký thông tin cá nhân của Nguyễn Tiến L. Số thuê bao 0902.713.162, C trình bày là của C mua và sử dụng đã được kích hoạt thông tin cá nhân của người khác.
* Kiểm tra sao kê các tài khoản Ngân hàng liên quan
- - Tài khoản Ngân hàng M1 số 0944444232 của Nguyễn Tiến L: Từ ngày 01/7/2024 đến ngày 24/7/2024, L 11 lần chuyển tiền, tổng số 63.100.000 đồng đến tài khoản Ngân hàng M1 số 0902713162 và 06 lần chuyển tiền, tổng số 49.000.000 đồng đến tài khoản Ngân hàng T8 số [...] của Lường Văn C (trong đó có 08 lần chuyển tiền mua ma túy, có danh sách kèm theo).
- - Tài khoản Ngân hàng M1 số 0766379799 của Trần Ngọc X1: Ngày 03/7/2024, chuyển số tiền 90.000.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng M1 số 0812959015 của Vàng A T7.
* Về vật chứng của vụ án
- - 01 hộp giấy đựng mẫu vật còn lại sau giám định, có dấu niêm phong của Phòng K3 Công an tỉnh B; 01 chai nhựa màu trắng, có nắp màu xanh, trên nắp chai có gắn 02 ống hút nhựa màu hồng, đầu ống hút có giấy màu bạc; 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 hộp giấy màu đen, bên trong có túi nilon có chữ nước ngoài.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh, bên trong lắp sim số 0383.136.937 của Hà Văn H1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng, bên trong lắp sim số 0787.425.576 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 4G màu đen, bên trong lắp sim số 0785.642.920 của Quàng Văn Q; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphong 11 không lắp sim của Lò Văn K.
Cơ quan điều tra đã chuyển vật chứng đến Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh để chờ xử lý theo quy định.
Tại cơ quan điều tra, Lường Văn C, Lò Văn K, Hà Văn H1, Quàng Văn Q thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên.
Nguyễn Tiến L thừa nhận có quen biết với Lường Văn C, Lò Văn K, Quàng Văn Q do C, K và Q có ăn ngủ tại nhà của L nhiều ngày. Ban đầu, L khai nhận ngày 31/7/2024, Q có mang “quả” ma túy “Đá” (là số ma túy đã bị lực lượng Công an thu giữ) vào nhà L ở sau UBND phường T, đưa cho L, nói ma túy của C bán cho L. Lực thử ma túy xong thấy hàng không chuẩn nên không đồng ý mua, bảo Q mang “quả” ma túy đi. Sau đó, L đi ra khỏi nhà, lúc này Q và ma túy vẫn ở nhà L, sau này Q mang “quả” ma túy đi đâu, làm gì L không biết. Sau đó, L thay đổi lời khai, trình bày khi Q mang “quả” ma túy đến L không mua, không thử ma túy. L thừa nhận có việc chuyển tiền cho C như đã nêu trên nhưng là tiền L chuyển cho C vay, không có giấy tờ, không phải tiền mua ma túy. Cơ quan điều tra đã cho C, Q đối chất với L, kết quả các bên giữ nguyên lời khai.
Với nội dung trên, tại Cáo trạng số 40/CT-VKSBN-P1 ngày 20/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố các bị cáo Lường Văn C, Nguyễn Tiến L, Hà Văn H1, Lò Văn K và Quàng Văn Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Lường Văn C, Hà Văn H1, Lò Văn K và Quàng Văn Q đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận Cáo trạng truy tố các bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo Chung và Q đều khai L có mua ma túy của C và Q là người mang ma túy về nhà cho L thử, nhưng do thấy ma túy kém chất lượng nên L không lấy. Ngoài ra, C cũng đã nhiều lần nhận tiền cọc, tổng cộng là 100 triệu đồng để bán ma túy cho L trong tháng 7/2024. Các bị cáo Chung, Hiện, K và Q đều đề nghị Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Đối với bị cáo Nguyễn Tiến L ban đầu không thừa nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy mà trình bày bị cáo có cho Quàng Văn Q ăn ở tại nhà bị cáo, ngày 31/7/2024 Q có mang “quả” ma túy đến nhưng bị cáo không mua và cũng không thử ma túy, sau đó Q mang ma túy đi đâu, làm gì thì bị cáo không biết. Đối với những lần chuyển tiền cho C, bị cáo khai đây là tiền bị cáo cho C vay mượn, không liên quan đến việc mua, bán ma túy. Tuy nhiên, sau đó bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và mong được giảm nhẹ hình phạt nhưng vẫn quanh co không thừa nhận có đặt mua ma túy của C.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo. Căn cứ vào hành vi phạm tội; tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi; căn cứ vào vai trò, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lường Văn C, Nguyễn Tiến L, Hà Văn H1, Lò Văn K và Quàng Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
* Về hình phạt:
- - Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 39 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Lường Văn C tù chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày 10/11/2024.
- - Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 39 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Quàng Văn Q tù chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày 01/8/2024.
- - Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; Điều 17; Điều 58; Điều 39 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Tiến L tù chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- - Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, (thêm khoản 2 đối với bị cáo K) Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: bị cáo Lò Văn K và Hà Văn H1 mỗi bị cáo 20 năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, chưa được hưởng lợi từ hành vi mua bán ma túy nên đề nghị miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:
- - Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định; các dụng cụ dùng để sử dụng và đựng ma túy.
- - Tịch thu sung ngân sách nhà nước 3 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone liên quan đến hành vi phạm tội của Q, K, Hiện và tiêu hủy các sim điện thoại kèm theo.
- - Trả lại bị cáo Q chiếc điện thoại Nokia kèm sim.
Các bị cáo Lường Văn C, Lò Văn K, Quàng Văn Q và bị cáo Hà Văn H1 đều không có ý kiến gì tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Riêng bị cáo Nguyễn Tiến L cho rằng mức án Viện kiểm sát đề nghị là nặng, đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Luật sư Nguyễn Thị N bào chữa cho bị cáo L đồng ý với bản cáo trạng về tội danh và khung hình phạt đối với bị cáo L. Tuy nhiên, luật sư cho rằng tại phiên tòa bị cáo L đã thừa nhận hành vi phạm tội nên đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Trên cơ sở đó luật sư đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Tiến L nhất trí với quan điểm của luật sư và mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo còn con nhỏ và bố mẹ đang đau ốm.
Luật sư Nguyễn Văn V bào chữa cho bị cáo C đồng ý với cáo trạng về tội danh và khung hình phạt đã truy tố đối với C. Tuy nhiên, đề nghị HĐXX làm rõ vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo để có mức hình phạt phù hợp. Luật sư cho rằng bị cáo Chung đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, bị cáo đã ra đầu thú, bị cáo là người dân tộc sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Bị cáo Chung nhất trí với quan điểm của người bào chữa và trình bày bị cáo đã ăn năn hối cải, mong HĐXX giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được về với gia đình và xã hội.
Luật sư Phan Văn T5 bào chữa cho bị cáo Q nhất trí về tội danh và các tình tiết giảm nhẹ như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo Q chỉ có vai trò giúp sức bị cáo C trong việc mua bán trái phép chất ma túy, Q đã chấp hành xong hình phạt tù và tội bị cáo phạm trong bản án trước là tội ít nghiêm trọng, bị cáo đã ra tự thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, số ma túy 733,8 gam có hàm lượng ma túy thấp, hậu quả xảy ra hạn chế vì ma túy chưa phát tán ra ngoài xã hội, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, bị cáo đã ra tự thú nên đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS để xử bị cáo hình phạt dưới mức Viện kiểm sát đề nghị và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo Q nhất trí quan điểm bào chữa của luật sư và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Luật sư Nguyễn Thanh B bào chữa cho bị cáo H1 cơ bản nhất trí với luận tội của Viện kiểm sát về tội danh và khung hình phạt. Tuy nhiên, đề nghị HĐXX xem xét bị cáo H1 là người dân tộc, hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động duy nhất trong gia đình, nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, hợp tác tích cực với cơ quan điều tra, đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS và xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt.
Bị cáo Hiện nhất trí quan điểm bào chữa của luật sư và mong HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Luật sư Nguyễn Thị H3 bào chữa cho bị cáo K đồng ý với tội danh và khung hình phạt như cáo trạng đã truy tố. Tuy nhiên, đề nghị cho bị cáo K được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra, bị cáo đã ra đầu thú, là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo có nhân thân tốt, vai trò của bị cáo trong vụ án là người giúp sức nên đề nghị HĐXX cho bị cáo hưởng mức hình phạt thấp hơn mức Viện kiểm sát đề nghị.
Bị cáo K nhất trí quan điểm bào chữa của luật sư và xin giảm nhẹ hình phạt.
Đối đáp lại các ý kiến của các vị luật sư: đại diện Viện kiểm sát khẳng định bị cáo Q chỉ ra đầu thú, không phải là tự thú nên bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 BLHS. Một số ý kiến của các vị luật sư đề nghị áp dụng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt nhưng các bị cáo chỉ có 1 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS nên không đủ căn cứ áp dụng Điều 54 BLHS. Do vậy, mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo là phù hợp. Đối với bị cáo L quá trình điều tra bị cáo quanh co chối tội, tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội nhưng chỉ khai báo một phần không thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nên không có căn cứ cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Do vậy, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như đã luận tội.
Quá trình đối đáp Viện kiểm sát, luật sư đều giữ nguyên quan điểm như đã nêu trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo L cho rằng lời khai ban đầu của bị cáo là do Điều tra viên viết và đưa bị cáo kí, bị cáo không đọc kỹ nội dung, tuy nhiên bị cáo không có căn cứ chứng minh nên HĐXX không xem xét. Đối với các bị cáo Chung, Hiện, K, Q và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên các quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2]. Về tội danh: Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Lường Văn C, Hà Văn H1, Lò Văn K và Quàng Văn Q đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối với bị cáo Nguyễn Tiến L: Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo L không thừa nhận hành vi phạm tội mà cho rằng Q có mang “quả” ma túy đá đến cho bị cáo xem và bảo mua nhưng bị cáo không mua cũng không thử ma túy, bị cáo không chuyển tiền cho C để đặt cọc mua ma túy, tất cả đều là tiền bị cáo cho C vay mượn. Tuy nhiên, tại phiên tòa ban đầu bị cáo không nhận tội nhưng sau đó bị cáo thừa nhận mình có tội, bị cáo trình bày do bị cáo nghĩ chưa nhận ma túy của C nên bị cáo không phạm tội. HĐXX xét thấy, căn cứ vào lời khai ban đầu của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của bị cáo C1 và Q trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay trùng khớp với nhau và đều thể hiện rõ bị cáo có đặt mua ma túy của C1, khi Q mang ma túy đến bị cáo có thử ma túy và cho rằng ma túy kém chất lượng nên không mua nữa. Tại bút lục số 599, 600 Lực khai “ngày 31/7/2024 thì Q gọi tôi vào nhà tôi cho nhân viên ở và bảo tôi là anh C1 có quả ma túy đá bán cho anh nên tôi đi từ nhà sang và thử ma túy đá của C1, thử ma túy xong thấy hàng không chuẩn nên tôi bảo Quyết ma túy này không chuẩn chúng mày mang đi đâu bán thì bán anh không mua”, “Quyết lấy quả ma túy đá ra cho tôi thử bằng cách cho vào giấy bạc đốt cho ma túy tan thành khỏi và thấy hàng kém chất lượng không lấy mang đi đâu thì mang”. Lời khai này của L phù hợp với lời khai của Q và C1. Hơn nữa, căn cứ vào các giao dịch chuyển tiền giữa L và C1: mặc dù L cho rằng L chuyển tiền nhiều lần cho C1 là để cho C1 vay mượn, tuy nhiên quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa C1 đều khẳng định không vay mượn tiền của L, toàn bộ tiền L chuyển cho C1 thì C1 khẳng định có 8 lần, tổng cộng là 100 triệu đồng là tiền L đặt cọc mua ma túy của C1, còn một số lần khác số tiền ít là L cho C1 để chi tiêu, sinh hoạt. Như vậy, lời khai tại phiên tòa của L cho rằng không đặt mua ma túy của C1 là mâu thuẫn và không phù hợp với hành vi khách quan của L nên không có cơ sở chấp nhận. Do vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:
Đầu tháng 7/2024, Nguyễn Tiến L thỏa thuận mua ma túy Methamphetamine của Lường Văn C với giá 180 triệu đồng, đã trả trước cho C số tiền 100 triệu đồng. Ngày 29/7/2024, C mua được 733,800 gam ma túy Methamphetamine với giá 90 triệu đồng và rủ Quàng Văn Q, Lò Văn K đi bán ma túy cho L như đã thỏa thuận trước giữa C với L.
Ngày 31/7/2024, Q nhận 733,800 gam ma túy Methamphetamine của C và mang vào nhà L tại tổ dân phố C, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang bán cho L theo yêu cầu của C. Sau khi thử ma túy, thấy ma túy không đảm bảo chất lượng nên L không đồng ý mua. C nói với Lò Văn K tìm người mua để bán số ma túy trên. K liên lạc và thỏa thuận bán số ma túy của C cho Hà Văn H1 với giá 100 triệu đồng. Quyết mang số ma túy của C đến quán M thuộc khu đô thị B, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh để bán cho Hiện theo yêu cầu của C và K. Hồi 14 giờ 00 phút ngày 01/8/2024, khi Hiện đang cất giấu 733,800 gam ma túy Methamphetamine tại phòng 501 quán M, mục đích tìm người mua để bán kiếm lời thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.
Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố tình thực hiện. Do đó, hành vi của các bị cáo Lường Văn C, Nguyễn Tiến L, Hà Văn H1, Lò Văn K và Quàng Văn Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước và còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương, làm gia tăng người nghiện ma túy trong xã hội. Bản thân các bị cáo có đủ nhận thức để hiểu được tác hại của ma túy và những quy định cấm đoán của pháp luật đối với mọi hành vi phạm tội về ma túy. Do vậy, cần phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm.
[4]. Xét vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Tiến L là người có nhân thân xấu; bị cáo Quàng Văn Q có 01 tiền án. Các bị cáo Lường Văn C, Hà Văn H1 và Lò Văn K đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo Chung, Hiện, K và Q thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Q, K, C đều ra đầu thú và là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên 3 bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo L mặc dù thừa nhận phạm tội, nhưng vẫn quanh co không khai báo hết hành vi phạm tội của mình nên không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Q phạm tội khi chưa được xóa án tích, lại tiếp tục phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo còn lại không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
HĐXX xét thấy, đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo C là người có vai trò chính, L, Hiện có vai trò sau C do các bị cáo đều trực tiếp thực hiện hành vi mua, bán ma túy. Bị cáo Q và K là đồng phạm giúp sức cho bị cáo C nên có vai trò ngang nhau. Các bị cáo cùng thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy với số lượng lớn là 733,800 gam ma túy Methamphetamine. Bị cáo Q có nhân thân xấu, từng bị xét xử cùng về tội phạm ma túy; bị cáo L đã bị đưa vào cơ sở giáo dưỡng và đang tiếp tục bị khởi tố điều tra về hành vi mua bán trái phép chất ma túy song không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Do vậy, cần có hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo Chung, L, Q ra khỏi đời sống xã hội không thời hạn mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Đối với bị cáo Hà Văn H1 và bị cáo Lò Văn K có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên, các bị cáo phạm vào tội đặc biệt nghiêm trọng, do vậy, cũng cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới có tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người lương thiện có ích cho xã hội. Mức hình phạt chính mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng với các bị cáo là phù hợp nên được chấp nhận.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[6]. Về vật chứng vụ án:
- - Đối với mẫu vật còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành, các dụng cụ sử dụng và đựng ma tuý nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 03 điện thoại nhãn hiệu Iphone của Q, K, H1 dùng để liên lạc mua bán ma túy nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước, tiêu hủy sim điện thoại kèm theo không còn giá trị sử dụng.
- - Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia lắp sim của bị cáo Q không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo Quàng Văn Q.
[7]. Liên quan đến vụ án:
Đối với Vàng A T7 theo lời khai của C là người đã bán ma túy cho C, hiện Than không sinh sống tại địa phương, đi đâu, làm gì gia đình và địa phương không biết. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.
Đối với Trần Ngọc X1 theo lời khai của C là người C nhờ X1 chuyển tiền cho T7. C trình bày khi nhờ X1 chuyển tiền không nói cho X1 biết số tiền chuyển để mua ma túy. Hiện X1 không sinh sống tại địa phương, đi đâu, làm gì gia đình và địa phương không biết. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.
[8]. Về án phí: Bị cáo L, Hiện phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; các bị cáo Chung, Q, K là người dân tộc thiểu số thuộc vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lường Văn C, Nguyễn Tiến L, Hà Văn H1, Lò Văn K và Quàng Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 39 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lường Văn C tù chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày 10/11/2024.
- - Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; Điều 17; Điều 58; Điều 39 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Tiến L tù chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- - Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 39 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Quàng Văn Q tù chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày 01/8/2024.
- - Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: bị cáo Lò Văn K 20 (Hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/8/2024.
- - Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: bị cáo Hà Văn H1 20 (Hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/8/2024.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam các bị cáo Lường Văn C, Hà Văn H1, Quàng Văn Q và Lò Văn K mỗi bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để bảo đảm thi hành án.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) Hộp giấy niêm phong theo quy định, trên mặt hộp giấy ghi chữ: Kính gửi: Cơ quan CSĐT (PC04) – Công an tỉnh B. Mẫu vật còn lại sau giám định trong vụ: Hà Văn H1, sn 1996; Nơi thường trú: X, Vạn L2, C, Lạng Sơn. Có hành vi Mua bán trái phép chất ma túy. Kèm theo kết luận giám định số 1820/KL-KTHS ngày 03/8/2024 và biên bản đóng gói và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 03/8/2024 của Phòng KTHS - Công an tỉnh B; 01(một) hộp giấy màu đen bên trong có túi nilong có chữ nước ngoài; 01 (một) chai nhựa màu trắng, có nắp màu xanh, trên nắp trai có 02 ống hút nhựa màu hồng, đầu ống hút có giấy màu bạc; 01 (một) bật lửa ga màu đỏ
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Pro max màu xanh đã qua sử dụng của Hà Văn H1; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro max màu vàng đã qua sử dụng của Quàng Văn Q; 01(một) điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 đã qua sử dụng của Lò Văn K. Tịch thu tiêu hủy 03 sim điện thoại kèm theo.
- - Trả lại bị cáo Quàng Văn Q 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 4G màu đen đã qua sử dụng kèm 01 sim của Quàng Văn Q.
(Tất cả vật chứng được thể hiện theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 88/2025 ngày 25/3/2025 giữa Công an tỉnh B (PC04) với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh).
3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Điều 12; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Nguyễn Tiến L, Hà Văn H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo Lường Văn C, Lò Văn K, Quàng Văn Q không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Hòa |
Bản án số 74/2025/HS-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 74/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lường Văn C và đồng phạm phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
