|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG Bản án số: 74/2025/HS-ST Ngày 21-11-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Bích Lý
Bà Nguyễn Thị Mai.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Thư - Thư ký Toà án nhân dân khu
vực 5 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng tham gia phiên
toà: Bà Vũ Thị Giang- Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến với điểm cầu trung tâm tại Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 74/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh T, sinh ngày 10 tháng 5 năm 1982 tại Hải Phòng. Nơi đăng ký thường trú: Số G C, phường L, thành phố Hải Phòng; tạm trú: Số F Chùa H, phường L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng T1 (đã chết) và bà Trần Thị Bích T2; có vợ là Hoàng Thị T3 và 01 con; tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 83/2021/HS-ST ngày 04/8/2021 Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng) xử phạt 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích); tiền sự: Không; bị tạm giam ngày 16/8/2025; có mặt.
Bị hại: Chị Đinh Thị Ánh T4, sinh năm 1984; nơi cư trú: Tổ A H, phường P, tỉnh Thái Nguyên; vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Tăng Bá N, sinh năm 1979; nơi đăng ký thường trú: Số D Miếu H, phường L, thành phố Hải Phòng; chỗ ở hiện nay: Số B T, phường K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 28/6/2025, chị Đinh Thị Ánh T4 đến Công an phường V (nay là Công an phường A), thành phố Hải Phòng trình báo về việc chị bị mất 01 túi xách bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 promax màu ghi và số tiền 2.200.000đồng tại mặt bàn đá trước cửa nhà số C V, phường A, thành phố Hải Phòng. Sau đó, qua định vị chị phát hiện vị trí chiếc điện thoại di động của mình đang ở số A T, phường L, thành phố Hải Phòng. Qua hình ảnh Camera do chủ nhà số C V là anh Vũ Văn H cung cấp, cơ quan Công an đã đến địa chỉ số A T đưa Nguyễn Thanh T về trụ sở để làm việc.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thanh T khai nhận: Sáng ngày 28/6/2025, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Aibalade biển kiểm sát 15D1-01222 đến khu vực đường T để mua ma túy về sử dụng. Tại đây, T gặp bạn xã hội có tên thường gọi là “H1 ruồi”, T hỏi H1 có tiền để mua chung ma túy không thì H1 yêu cầu T chở về nhà chị gái của H1 ở khu vực Chợ H2 để lấy tiền. Khi T và H1 đi qua khu vực trước cửa nhà số C V thì cả hai thấy trên mặt bàn đá trước cửa nhà có 01 túi xách màu đen. T chở H1 đi qua khoảng 50m thì H1 bảo T “có túi xách để trên mặt bàn kìa” và bảo T quay xe lại. T hiểu ý H1 rủ mình lấy chiếc túi xách nên T điều khiển xe quay lại, cả hai quan sát xung quanh không thấy ai trông coi, H1 xuống xe trộm cắp chiếc túi xách, còn T ngồi trên xe đợi. Sau khi trộm cắp, H1 kiểm tra túi xách rồi nói với T bên trong có 01 chiếc điện thoại di động và một số giấy tờ, H1 bảo T chở đi bán điện thoại. T chở H1 đến cửa hàng điện thoại số A T, phường L, thành phố Hải Phòng bán cho chủ cửa hàng là ông Tăng Bá N với giá 3.000.000đồng. Sau đó, T chở H1 đến khu vực ngã tư T- C- Chùa H3, H1 xuống xe chia cho T số tiền 1.000.000đồng rồi H1 đi bộ về hướng ngã tư A, còn T đi về nhà. Một lúc sau, T đi bộ ra cửa hàng điện thoại của ông N để mua thẻ điện thoại và chuộc lại chiếc điện thoại Xiaomi mà T đã cầm cố trước đó thì bị lực lượng Công an đến tạm giữ chiếc điện thoại Iphone 15 Promax; số tiền 1.000.00 đồng; chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Aibalade BKS: 15D1-01222 và đưa T về trụ sở làm việc.
Bị hại chị Đinh Thị Ánh T4 khai: Vào sáng ngày 28/6/2025 chị đến nhà em họ ở số C V chơi thì bị mất chiếc túi xách bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax và số tiền 2.200.000đồng. Sau chị thay đổi lời khai là do nhớ nhầm nên đã khai bị mất số tiền 2.200.000đồng, nay chị khẳng định chị chỉ bị mất 01 túi xách bên trong có 01 điện thoại di động, ngoài ra không mất tài sản gì khác. Chị đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, chị không yêu cầu bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Tăng Bá N khai: Khi T đến cửa hàng bán điện thoại, T có nói với ông nguồn gốc chiếc điện thoại di động là do T nhặt được nên ông đồng ý mua với giá 3.000.000đồng để lấy phụ kiện, ông không biết đấy là tài sản do T trộm cắp mà có. Ông N tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax đã mua của T; 01 túi xách da màu đen do nam giới đi cùng T vứt lại ở cửa hàng. Ông N không yêu cầu bị cáo phải trả số tiền mà ông đã bỏ ra mua điện thoại.
Tại Kết luận định giá tài sản số 40/KL-HĐĐGTS ngày 08/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Hải Phòng, kết luận: 01 túi xách màu đen làm bằng da, không có nhãn hiệu, trị giá 30.000đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 promax trị giá 20.000.000đồng. Tổng giá trị các tài sản cần định giá là 20.030.000đồng.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Aiblade biển kiểm sát 15D1-01222, quá trình điều tra xác định là tài sản thuộc sở hữu của bà Trần Thị Bích T2, sinh năm 1957, nơi thường trú: Số G C, phường L, thành phố Hải Phòng; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã trả lại chiếc xe cho bà T2.
Đối với anh Tăng Bá N, khi mua điện thoại không biết là tài sản do T trộm cắp nên không có căn cứ để xử lý về hành vi Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
Đối với đối tượng “Huy ruồi”, Camera ghi hình thể hiện là người đi cùng bị cáo T, trực tiếp lấy túi xách của chị T4, quá trình điều tra chưa xác định được lai lịch, địa chỉ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H tiếp tục xác minh thu thập tài liệu và xử lý sau khi đủ căn cứ. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng đã có Công văn số 17/VKSKV5 ngày 27/10/2025 yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H ra Quyết định tách hành vi và tài liệu có liên quan xác minh, làm rõ sau.
Tại Cáo trạng số 17/CT-VKSKV5 ngày 27 tháng 10 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất của vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã giữ nguyên quyết định như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T mức án từ 15 đến 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
Do bị cáo không có nghề nghiệp, không thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 1.000.000đồng đã thu giữ khi bắt giữ bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về hành vi Trộm cắp tài sản:
[3] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, nội dung bản Cáo trạng, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào ngày 28/6/2025, tại khu vực trước cửa nhà số C V, phường A, thành phố Hải Phòng, bị cáo Nguyễn Thanh T đã có hành vi lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 chiếc túi xách màu đen trị giá 30.000đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax của chị Đinh Thị Ánh T4 với tổng giá trị 20.030.000đồng. Do vậy, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội Trộm cắp tài sản vi phạm khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản, gây mất trật tự trị an xã hội; tội phạm bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp; về nhân thân bị cáo có 01 tiền án đã được xóa án tích, qua đó cho thấy ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo là kém. Vì vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, vai trò phạm tội và đặc điểm nhân thân của bị cáo.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[5] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[6] Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tù trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
- Về hình phạt bổ sung:
[8] Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Do bị cáo không nghề nghiệp, không thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm bồi thường dân sự:
[9] Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
-Về xử lý vật chứng:
[10] Đối với số tiền 1.000.000đồng đã thu giữ của bị cáo, xét là khoản tiền do phạm tội mà mà nên căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
- Về các vấn đề khác:
[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo:
[12] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16 tháng 08 năm 2025.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 1.000.000đồng (Một triệu đồng) đã thu giữ của bị cáo.
(Số tiền này Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã Ủy nhiệm chi cho Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng ngày 30 tháng 10 năm 2025);
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hương |
Bản án số 74/2025/HS-ST ngày 21/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 74/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh Tùng - trộm cáp tài sản
