|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 74/2025/HS-ST Ngày 20 - 06 - 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Anh Cường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn An
Bà Đỗ Thị Kim Thúy
- Thư ký phiên toà: Bà Triệu Mỹ Linh – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 64/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2025/QĐXXST-HS ngày 05/06/2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Trung D, sinh năm 1980 tại thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Trần Thị N; có vợ là Phan Thị Phương M và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo hiện đang tại ngoại tại địa phương (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Trung D là đại diện theo pháp luật của hộ kinh doanh Nguyễn Trung D, mã số thuế: 2500652906, địa chỉ: xã N, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, ngành nghề kinh doanh chính: Mua bán lương thực, thực phẩm. Hộ kinh doanh Nguyễn Trung D đăng ký kê khai nộp thuế tại Chi cục Thuế khu vực P theo phương pháp tính thuế trực tiếp doanh thu. Quá trình hoạt động, ngoài việc mua bán hàng hóa và xuất hóa đơn đúng quy định cho các đơn vị mua hàng, Nguyễn Trung D còn bán hóa đơn khống (không có hàng hóa) cho Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc. Cụ thể như sau:
Từ năm 2021 đến hết năm 2024, Trần Quang D1 - Giám đốc Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc giao cho Nguyễn Văn Đ là cán bộ Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc mua hóa đơn để hợp thức thanh toán cho số hàng hóa không có hóa đơn, đồng thời lập khống chứng từ để rút tiền ngân sách chi các khoản chi sai quy định. Do có quen biết với Nguyễn Trung D nên Đ nhiều lần đặt vấn đề mua hóa đơn ghi khống nội dung để hợp thức cho số hàng hóa mà Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc mua của các cá nhân không có hóa đơn. Do nể nang Nguyễn Văn Đ thường xuyên mua hàng hóa của mình nên Nguyễn Trung D đã đồng ý bán hóa đơn khống cho Nguyễn Văn Đ và thống nhất giá bán hóa đơn từ 2,1% đến 3,6% giá trị tiền hàng ghi trên hóa đơn.
Quá trình điều tra xác định, H kinh doanh Nguyễn Trung D đã xuất cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc tổng số 42 hóa đơn bán hàng ghi tổng số tiền trên hóa đơn là 2.193.252.433 đồng. Trong số 42 hóa đơn này thì có 13 hóa đơn là Hộ kinh doanh Nguyễn Trung D bán hàng hóa thật cho Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc còn 29 hóa đơn là Hộ kinh doanh Nguyễn Trung D xuất khống cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc theo đề nghị của Nguyễn Văn Đ với tổng số tiền hàng hóa ghi trên 29 hóa đơn là 1.617.328.633 đồng, số tiền thu được từ việc bán 29 hóa đơn là 55.960.633 đồng. Ngoài ra, Nguyễn Trung D không bán hóa đơn khống cho bất cứ cá nhân, đơn vị nào khác.
Khi nào có nhu cầu mua hóa đơn thì Nguyễn Văn Đ cung cấp cho Nguyễn Trung D các thông tin để lập hóa đơn như: Tên đơn vị mua hàng, mặt hàng, tổng tiền hàng. Sau khi Nguyễn Văn Đ cung cấp các thông tin cho Nguyễn Trung D để lập hóa đơn, thì đối với những hóa đơn viết tay Nguyễn Trung D nhờ vợ là Phan Thị Phương M trực tiếp viết, còn đối với những hóa đơn điện tử Nguyễn Trung D cũng nhờ M lập để xuất cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc, toàn bộ nội dung để lập hóa đơn do Nguyễn Trung D cung cấp cho Phan Thị Phương M để thực hiện, toàn bộ việc mua bán hàng hóa giữa Hộ kinh doanh Nguyễn Trung D với Cơ sở do Nguyễn Trung D trực tiếp thực hiện, Phan Thị Phương M không tham gia gì vào việc này mà chỉ lập hóa đơn khi Nguyễn Trung D yêu cầu. Ngoài ra Nguyễn Trung D còn nhờ Phan Thị Phương M thực hiện công tác báo cáo thuế và lập xuất hóa đơn theo sự chỉ đạo của Nguyễn Trung D cho các đơn vị và cá nhân mua hàng của H kinh doanh Nguyễn Trung D. Để hợp thức cho việc bán trái phép hóa đơn thì Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Trung D đã cùng nhau hoàn thiện các thủ tục mua bán, thanh toán tiền hàng hóa ghi trên hóa đơn theo quy định. Sau khi hoàn thiện hồ sơ, thủ tục mua bán hàng hóa, Nguyễn Văn Đ làm thủ tục đề nghị thanh toán tiền ghi trên hóa đơn cho H kinh doanh Nguyễn Trung D bằng hình thức chuyển khoản đến số tài khoản của H kinh doanh Nguyễn Trung D ghi trong hợp đồng kinh tế, cụ thể là tài khoản cá nhân của Nguyễn Trung D số tài khoản là 1018822425 đăng ký mở tại Ngân hàng TMCP N1 tại tỉnh Vĩnh Phúc. Sau khi Nguyễn Trung D nhận được tiền do Cơ sở thanh toán, theo thỏa thuận mua bán hóa đơn trước đó, Nguyễn Trung D tự giữ lại số tiền bán hóa đơn, tương ứng từ khoảng 2% đến khoảng 3.5% trên tổng tiền hàng ghi trên hóa đơn, số tiền còn lại Nguyễn Trung D sử dụng tài khoản cá nhân của mình nêu trên chuyển trả lại cho Nguyễn Văn Đ vào các số tài khoản do Nguyễn Văn Đ yêu cầu, những số tài khoản này do Nguyễn Văn Đ cung cấp trực tiếp cho Nguyễn Trung D, cụ thể Nguyễn Văn Đ đã cung cấp cho Nguyễn Trung D những số tài khoản để chuyển tiền: Tài khoản số [...] của Nguyễn Văn Đ mở tại Ngân hàng C tại Vĩnh Phúc; tài khoản số 0989554669 của Nguyễn Văn Đ mở tại Ngân hàng M1 tại Vĩnh Phúc; tài khoản số 42510001712827 mở tại Ngân hàng B, tài khoản số 0976458992 mở tại ngân hàng M1 tại Vĩnh Phúc của Trần Thị Minh H1- Cán bộ Cơ sở (Nguyễn Văn Đ nhiều lần nhờ tài khoản của Trần Thị Minh H1 để nhận, chuyển tiền, Đ không nói cho H1 biết tiền nhận, chuyển là tiền gì, có nguồn gốc cụ thể như thế nào). Quá trình trao đổi mua bán hóa đơn, Nguyễn Văn Đ chỉ nói với D mua hóa đơn để hợp thức số tiền mua hàng hóa của những hộ gia đình, cá nhân bán hàng cho Cơ sở cai nghiện mà không có hóa đơn. Nguyễn Trung D không biết các hóa đơn đã bán cho Nguyễn Văn Đ đã được sử dụng vào mục đích gì.
Trong năm 2022 và năm 2023, Nguyễn Trung D đã bán cho Nguyễn Văn Đ tổng số 29 hóa đơn khống (trong đó có 4 hóa đơn viết tay, 25 hóa đơn điện tử) cho Cơ sở cai nghiện tỉnh Vĩnh Phúc tương ứng với số tiền bán hóa đơn cụ thể là:
- Hóa đơn số 40556 ghi ngày 31/3/2022, tiền thanh toán trên hóa đơn là 40.054.600 đồng, tiền bán hóa đơn là 3.5% x 40.054.600 đồng = 1.404.600 đồng, tiền D chuyển lại cho Đ là 38.650.000 đồng.
- Hóa đơn số 40569 ghi ngày 30/4/2022, tiền thanh toán trên hóa đơn là 32.591.600 đồng, tiền bán hóa đơn là 3.5% x 32.591.600 đồng = 1.141.600 đồng, tiền D chuyển lại cho Đ là 31.450.000 đồng.
- Hóa đơn số 40576 ghi ngày 31/5/2022, tiền thanh toán trên hóa đơn là 32.753.600 đồng, tiền bán hóa đơn là 3.5% x 32.753.600 đồng = 1.153.600 đồng, tiền D chuyển lại cho Đ là 31.600.000 đồng.
- Hóa đơn số 40582 ghi ngày 30/6/2022, tiền thanh toán trên hóa đơn là 31.912.800 đồng, tiền bán hóa đơn là 3.5% x 31.912.800 đồng = 1.112.800 đồng, tiền D chuyển lại cho Đ là 30.800.000 đồng.
- Hóa đơn số 6 ghi ngày 05/8/2022, tiền thanh toán trên hóa đơn là 35.361.800 đồng, tiền bán hóa đơn là 2.1% x 35.361.800 đồng = 741.800 đồng, tiền D chuyển lại cho Đ là 34.620.000 đồng.
- Hóa đơn số 13 ghi ngày 14/9/2022, tiền thanh toán trên hóa đơn là 34.369.200 đồng, tiền bán hóa đơn là 3.5% x 34.369.200 đồng = 1.199.200 đồng, tiền D chuyển lại cho Đ là 33.170.000 đồng.
- Hóa đơn số 17 ghi ngày 03/10/2022, tiền thanh toán trên hóa đơn là 35.452.600 đồng, tiền bán hóa đơn là 3.5% x 35.452.600 đồng = 1.240.600 đồng, tiền D chuyển lại cho Đ là 34.212.000 đồng.
- Hóa đơn số 24 ghi ngày 04/11/2022, tiền thanh toán trên hóa đơn là 37.852.600 đồng, tiền bán hóa đơn là 3.6% x 37.852.600 đồng = 1.352.600 đồng, tiền D chuyển lại cho Đ là 36.500.000 đồng.
- Hóa đơn số 34 ghi ngày 13/12/2022, tiền thanh toán trên hóa đơn là 36.967.600 đồng, tiền bán hóa đơn là 3.5% x 36.967.600 đồng = 1.281.600 đồng, tiền D chuyển lại cho Đ là 35.686.000 đồng.
- Hóa đơn số 38 ghi ngày 31/12/2022, tiền thanh toán trên hóa đơn là 39.303.200 đồng, tiền bán hóa đơn là 3.5% x 39.303.200 đồng = 1.383.200 đồng, tiền D chuyển lại cho Đ là 37.920.000 đồng.
- Hóa đơn số 2 ghi ngày 01/02/2023, tiền thanh toán trên hóa đơn là 83.750.000 đồng, tiền bán hóa đơn là 3.5% x 83.750.000 đồng = 2.930.000 đồng, tiền D chuyển lại cho Đ là 80.820.000 đồng.
- Hóa đơn số 3 ghi ngày 01/02/2023, hóa đơn số 4 ghi ngày 06/02/2023, tiền thanh toán trên 02 hóa đơn là 45.196.600 đồng, tiền bán hóa đơn là 2.6% x 45.196.600 đồng = 1.156.600 đồng, tiền D chuyển lại cho Đ là 44.040.000 đồng.
- Hóa đơn số 16 ghi ngày 24/3/2023, tiền thanh toán trên hóa đơn là 40.574.600 đồng, tiền bán hóa đơn là 3.5% x 40.574.600 đồng = 1.424.600 đồng, tiền D chuyển lại cho Đ là 39.150.000 đồng.
- Hóa đơn số 20 ghi ngày 17/4/2023, tiền thanh toán trên hóa đơn là 42.915.800 đồng, tiền bán hóa đơn là 3.5% x 42.915.800 đồng = 1.515.800 đồng, tiền D chuyển lại cho Đ là 41.400.000 đồng.
- Hóa đơn số 21 ghi ngày 04/5/2023, tiền thanh toán trên hóa đơn là 47.063.400 đồng, tiền bán hóa đơn là 3.5% x 47.063.400 đồng = 1.663.400 đồng, tiền D chuyển lại cho Đ là 45.400.000 đồng.
- Hóa đơn số 30 ghi ngày 09/6/2023, tiền thanh toán trên hóa đơn là 45.340.800 đồng, tiền bán hóa đơn là 3.3% x 45.340.800 đồng = 1.490.800 đồng, tiền D chuyển lại cho Đ là 43.850.000 đồng.
- Hóa đơn số 35 ghi ngày 17/7/2023, tiền thanh toán trên hóa đơn là 74.023.057 đồng, tiền bán hóa đơn là 3.6% x 74.023.057 đồng = 2.693.057 đồng, tiền D chuyển lại cho Đ là 71.330.000 đồng.
- Hóa đơn số 36 ghi ngày 25/7/2023, tiền thanh toán trên hóa đơn là 77.878.930 đồng, tiền bán hóa đơn là 3.6% x 77.878.930 đồng = 2.778.930 đồng, tiền D chuyển lại cho Đ là 75.100.000 đồng.
- Hóa đơn số 41 ghi ngày 08/8/2023, tiền thanh toán trên hóa đơn là 73.031.644 đồng, tiền bán hóa đơn là 3.5% x 73.031.644 đồng = 2.531.644 đồng, tiền D chuyển lại cho Đ là 70.500.000 đồng.
- Hóa đơn số 43 ghi ngày 17/8/2023, tiền thanh toán trên hóa đơn là 81.401.870 đồng, tiền bán hóa đơn là 3.5% x 81.401.870 đồng = 2.851.870 đồng, tiền D chuyển lại cho Đ là 78.550.000 đồng.
- Hóa đơn số 48 ghi ngày 18/9/2023, tiền thanh toán trên hóa đơn là 74.400.900 đồng, tiền bán hóa đơn là 3.5% x 74.400.900 đồng = 2.610.900 đồng, tiền D chuyển lại cho Đ là 71.790.000 đồng.
- Hóa đơn số 50 ghi ngày 25/9/2023, tiền thanh toán trên hóa đơn là 86.376.900 đồng, tiền bán hóa đơn là 3.5% x 86.376.900 đồng = 3.046.900 đồng, tiền D chuyển lại cho Đ là 83.330.000 đồng.
- Hóa đơn số 55 ghi ngày 09/10/2023, hóa đơn số 56 ngày 12/10/2023, tiền thanh toán trên 02 hóa đơn là 163.619.106 đồng, tiền bán hóa đơn là 3.5% x 163.619.106 đồng = 5.769.106 đồng, tiền D chuyển lại cho Đ là 157.850.000 đồng.
- Hóa đơn số 64 ghi ngày 08/11/2023, tiền thanh toán trên hóa đơn là 78.536.612 đồng, tiền bán hóa đơn là 3.5% x 78.536.612 đồng = 2.786.612 đồng, tiền D chuyển lại cho Đ là 75.750.000 đồng.
- Hóa đơn số 67 ghi ngày 15/11/2023, tiền thanh toán trên hóa đơn là 88.163.320 đồng, tiền bán hóa đơn là 3.5% x 88.163.320 đồng = 3.113.320 đồng, tiền D chuyển lại cho Đ là 85.050.000 đồng.
- Hóa đơn số 74 ghi ngày 08/12/2023, hóa đơn số 75 ngày 11/12/2023, tiền thanh toán trên 02 hóa đơn là 158.435.494 đồng, tiền bán hóa đơn là 3.5% x 158.435.494 đồng = 5.585.494 đồng, tiền D chuyển lại cho Đ là 152.850.000 đồng.
Như vậy số tiền D thu được từ việc bán 29 hóa đơn là 55.960.633 đồng. Toàn bộ 29 hóa đơn nêu trên Hộ kinh doanh Nguyễn Trung D đã kê khai nộp thuế đầy đủ tại Chi cục thuế khu vực P.
Ngày 09/7/2024, Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh V ban hành Văn bản số 2146/CSKT-Đ4 đề nghị Chi cục thuế khu vực P, tỉnh Vĩnh Phúc cung cấp thông tin về thuế suất áp dụng đối với các loại hàng hóa, dịch vụ ghi trên 29 hóa đơn trên. Ngày 13/8/2024, Chi cục thuế khu vực P có Văn bản số 1622/CV- CCTKV-KTr1 trả lời Văn bản số 2146/CSKT-Đ4 của Cơ quan CSĐT xác định: Thuế suất áp dụng đối với các loại hàng hóa, dịch vụ trên 29 hóa đơn nêu trên áp dụng mức thuế suất là 1,5% trên doanh thu bán ra, trong đó tỷ lệ thuế GTGT là 1%, thuế TNCN là 0,5%. Các loại thuế phát sinh của 29 hóa đơn là 24.259.929 đồng, trong đó: Thuế GTGT là 16.173.286 đồng, thuế TNCN là 8.086.643 đồng, H kinh doanh Nguyễn Trung D đã kê khai nộp số tiền thuế này tại Chi cục Thuế khu vực P. Như vậy, số tiền Nguyễn Trung D thu lợi bất chính từ việc bán 29 hóa đơn cho Nguyễn Văn Đ sau khi đã kê khai nộp thuế là: 31.700.704 đồng (55.960.633 đồng - 24.259.929 đồng = 31.700.704 đồng).
Quá trình điều tra xác định, từ năm 2021 đến nay Hộ kinh doanh Nguyễn Trung D còn ký hợp đồng bán hàng hóa là lương thực, thực phẩm, gia vị, hàng hóa khác cho 05 đơn vị gồm: Trung tâm nuôi dưỡng và phục hồi chức năng người tâm thần tỉnh Vĩnh Phúc, địa chỉ: xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; Trại giam V, địa chỉ: xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; Trung tâm H2, địa chỉ: xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; Trường T1, địa chỉ: xã H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc và Kho KT887- Cục K, địa chỉ: phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Quá trình điều tra và ghi lời khai những người liên quan xác định H kinh doanh Nguyễn Trung D bán hàng cho những đơn vị trên là bán hàng hóa có thật, do vậy không xem xét xử lý.
Đối với hành vi của Trần Quang D1 và Nguyễn Văn Đ: mua hóa đơn để hợp thức thanh toán cho số hàng hóa không có hóa đơn, đồng thời lập khống chứng từ để rút tiền ngân sách chi các khoản chi sai quy định. Ngày 01/10/2024, Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can đối với Trần Quang D1 và Nguyễn Văn Đ về tội Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ, xảy ra tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc. Hiện tại, Cơ quan điều tra vẫn đang tiếp tục điều tra. Vì vậy, không đề cập xử lý trong vụ án này.
Đối với Phan Thị Phương M là vợ của Nguyễn Trung D là người được Nguyễn Trung D nhờ viết, lập hóa đơn bán hàng, thực hiện công tác báo cáo thuế cho H kinh doanh Nguyễn Trung D, các công việc Phan Thị Phương M thực hiện theo yêu cầu, chỉ đạo của Nguyễn Trung D. Bản thân Phan Thị Phương M không tham gia và cũng không biết việc Nguyễn Trung D bán 29 hóa đơn cho Nguyễn Văn Đ nêu trên. Vì vậy, Cơ quan Công an tỉnh V không xem xét xử lý đối với Phan Thị Phương M.
Tại bản Cáo trạng số 76/CT-VKS-P1 ngày 26 tháng 5 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố Nguyễn Trung D về tội “Mua bán trái phép hóa đơn” theo khoản 1 Điều 203 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu quan điểm, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung D phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn” theo quy định tại khoản 1 điều 203 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 203; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt: Nguyễn Trung D từ 70.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, đề nghị: Tịch thu sung công số tiền bị cáo đã nộp để khắc phục hậu quả.
Bị cáo nói lời sau cùng, do nhận thức pháp luật hạn chế nên đã vi phạm pháp luật, sau khi phạm tội rất ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra tỉnh Vĩnh Phúc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra và xét hỏi công khai tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trung D đã khai nhận rõ toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các tình tiết khách quan đã được cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, đúng với hành vi phạm tội của bị cáo. Như vậy, Hội đồng xét xử một lần nữa có đủ cơ sở kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Trong năm 2022 và 2023, Nguyễn Trung D đã xuất bán khống cho Cơ sở Cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc tổng số 29 hóa đơn với tổng số tiền là 1.617.328.633 đồng, trong đó tiền bán hóa đơn là 55.960.633 đồng. Toàn bộ 29 hóa đơn nêu trên D đều kê khai, nộp thuế tại Chi cục thuế khu vực P số tiền 1,5% giá trị số tiền ghi trên hóa đơn (Thuế GTGT là 1%, thuế thu nhập cá nhân là 0,5%) là 24.259.929 đồng. Số tiền D thu lợi bất chính là: 31.700.704 đồng.
[3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Trung D phạm tội: “Mua bán trái phép hóa đơn” theo quy định tại khoản 1 điều 203 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại khoản 1, Điều 203 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:
“1. Người nào...mua bán trái phép hóa đơn...đã ghi nội dung từ 10 số đến dưới 30 số... thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 03 năm”
[4] Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, cụ thể xâm phạm đến chế độ quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước, gây ra thất thu cho ngân sách. Hành vi này không chỉ làm suy giảm tính minh bạch, công bằng trong hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn tiếp tay cho các hành vi trốn thuế. Do đó, cần xử lý nghiêm bị cáo để góp phần răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[5] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
- Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ: Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, quá trình điều tra và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình chuẩn bị xét xử bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền 31.700.704 đồng (là tiền thu lời) tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Về tình tiết tăng nặng: Không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Đối với đối tượng có liên quan trong vụ án:
Trần Quang D1 và Nguyễn Văn Đ mua hóa đơn để hợp thức thanh toán cho số hàng hóa không có hóa đơn, đồng thời lập khống chứng từ để rút tiền ngân sách chi các khoản chi sai quy định. Ngày 01/10/2024, Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can đối với Trần Quang D1 và Nguyễn Văn Đ về tội Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ, xảy ra tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc. Hiện tại, Cơ quan điều tra vẫn đang tiếp tục điều tra. Vì vậy, không đề cập xử lý trong vụ án này.
Phan Thị Phương M là vợ của Nguyễn Trung D là người được Nguyễn Trung D nhờ viết, lập hóa đơn bán hàng, thực hiện công tác báo cáo thuế cho H kinh doanh Nguyễn Trung D, các công việc Phan Thị Phương M thực hiện theo yêu cầu, chỉ đạo của Nguyễn Trung D. Bản thân Phan Thị Phương M không tham gia và cũng không biết việc Nguyễn Trung D bán 29 hóa đơn cho Nguyễn Văn Đ nêu trên. Vì vậy, Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh V không xem xét xử lý đối với Phan Thị Phương M là có căn cứ.
Trần Thị Minh H1, sinh năm 1982, nơi ĐKTT: xã D, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc là cán bộ Cơ sở cai nghiện tỉnh Vĩnh Phúc: Trong việc mua hóa đơn của Hộ kinh doanh Nguyễn Trung D, Nguyễn Văn Đ có nhờ tài khoản cá nhân của Trần Thị Minh H1 để sử dụng chuyển và nhận tiền. Nguyễn Văn Đ không nói cho Trần Thị Minh H1 biết về nguồn gốc số tiền Nguyễn Văn Đ nhận, chuyển cụ thể như thế nào; H1 không biết việc Đ mua hóa đơn của H kinh doanh Nguyễn Trung D. Do vậy H1 không đồng phạm với Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Trung D về tội Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ.
[7] Về hình phạt:
- Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã nộp lại toàn bộ số tiền thu lời trong vụ án. Vì vậy cần áp dụng hình phạt tiền như đề nghị của Viện kiểm sát, vừa thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật vừa thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa, nhằm giáo dục các bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng của vụ án:
- Bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 31.700.704 đồng để tự nguyện khắc phục hậu quả là số tiền trốn thuế, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Nguyễn Trung D phải nộp 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Nguyễn Trung D phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn”.
Áp dụng khoản 1 Điều 203; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt Nguyễn Trung D 80.000.000 đồng.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 31.700.704 đồng bị cáo tự nguyện nộp để khắc phục hậu quả. (Toàn bộ vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/6/2025 giữa Công an tỉnh V và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Trung D phải nộp 200.000 đồng.
Bị cáo Nguyễn Trung D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đỗ Anh Cường |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Nguyễn Văn An Đỗ Thị Kim Thúy |
Đỗ Anh Cường |
|
Bản án số 74/2025/HS-ST ngày 20/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về mua bán trái phép hóa đơn
- Số bản án: 74/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép hóa đơn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trung D bán hóa đơn cho Trung tâm cai nghiện tỉnh Vĩnh Phúc
