|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 74/2025/HS-ST
Ngày: 14 - 02 - 2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Võ Thị Gái.
- Bà Nguyễn Hương Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Đức – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2025/HSST ngày 08 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn D, sinh năm: 1988, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: D Đường A, khu phố V, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 3/12; nghề nghiệp: Không; con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị L; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; chưa có vợ con; tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 30/11/2019, Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xử phạt 03 năm 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và “Cướp giật tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 91/HS-ST ngày 30/11/2019, chấp hành xong thi hành án dân sự, chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/9/2022.
Nhân thân:
- Ngày 20/5/2005, Ủy Ban nhân dân Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định đưa vào trường giáo dưỡng 24 tháng, đã chấp hành xong.
- Ngày 30/5/2008, Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Chống người thi hành công vụ”, chấp hành xong thi hành án dân sự, chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/01/2009.
- Ngày 13/6/2012, Ủy Ban nhân dân Thành phố H ra Quyết định đưa vào cơ sở giáo dục 24 tháng, đã chấp hành xong.
- Ngày 10/10/2016, Ủy Ban nhân dân phường L, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định đưa vào trường cai nghiện bắt buộc, đã chấp hành xong.
- Bị hại: Anh Nguyễn Anh T (Chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- Chị Thạch Thị T1, sinh năm 1983 (là vợ của bị hại).
- Em Nguyễn Thành D1, sinh năm 2000 và em Nguyễn Thị T2, sinh năm 2010 (là con của bị hại).
Địa chỉ: 8 T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
Địa chỉ: P, Nhà số B, Đường C, phường L, Thành phố T, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 17/11/2022, sau khi say rượu thì Nguyễn Văn D đi bộ về nhà trên đường H, phường L. Trong lúc đang đi, D nhìn thấy 01 con gà không rõ của ai đậu trên cây ngoài đường nên D bắt lấy con gà ôm trên tay rồi đi tìm người để uống rượu tiếp. Trong lúc D đi bộ đến ngã ba đường H và đường A thuộc khu phố V, phường L, thành phố T thì D thấy anh Nguyễn Anh T (sinh ngày 10/11/1976) đi bộ một mình trên đường và nhìn D khó chịu nên D đi đến dùng tay trái kẹp cổ anh T nói: “Tôi làm gì mà anh kên tôi, giờ có tiền mua rượu nhậu không?”, anh T trả lời không có tiền và dùng tay đẩy D ra rồi anh T đi tiếp, D vứt con gà đi theo anh T và hỏi “giờ anh muốn gì”, anh T không trả lời và tiếp tục bỏ đi thì D đuổi theo đến ngã ba đường số A và đường H trước nhà số A, Đường A, khu phố V, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, D dùng tay phải nắm cổ áo sau lưng xô anh T đập đầu vào trụ điện, D tiếp tục nắm cổ áo đập đầu anh T vào vách tường giữa hai trụ điện 02 cái rồi giật ngược, dùng chân phải gạt chân của anh T làm anh T té nằm ngửa xuống đường 15, D xông lại dùng tay trái đè vào bụng anh T, tay phải đánh nhiều cái vào đầu, mặt, ngực, bụng anh T và dùng hai tay lật anh T nằm nghiêng bên phải rồi D dùng chân phải đạp trên hai cái vào đùi chân trái anh T, anh T nằm lật ngửa lại D tiếp tục dùng chân phải đạp nhiều cái lên đùi chân phải anh T, anh T truy hô đau và kêu cứu nên D bỏ đi về nhà. Đến 20 giờ 20 phút ngày 17/11/2022, anh T về đến nhà thì kêu đau nên được anh Nguyễn Thành D1 (con trai anh T) đưa đi cấp cứu tại bệnh viện L1. Đến 04 giờ 10 phút ngày 18/11/2022, anh Thành hôn M sau đó đã chết. Anh D1 đã đến Công an phường T trình báo sự việc.
Qua truy xét camera tại hiện trường, ngày 20/11/2022 Công an thành phố T đã mời Nguyễn Văn D đến trụ sở làm việc. Quá trình điều tra, Nguyễn Văn D khai nhận toàn bộ hành vi như trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được.
Kết luận giám định pháp y số 2093/TT.22 ngày 03/4/2023 của trung tâm P – Sở Y tế Thành phố H kết luận đối với tử thi của Nguyễn Anh T:
- Dấu hiệu chính qua giám định:
- + Nhiều vết sây sát da, bầm tụ máu rải rác trên cơ thể;
- + Tụ máu dưới màng cứng lượng ít bán cầu đại não phải;
- + Tụ máu dưới nhện vùng đỉnh bán cầu đại não phải;
- + Tụ máu trong kết mạc mắt phải, trong mô dưới da cằm phải;
- + Khí quản có dịch bọt hồng;
- + Gãy cung trước nhiều xương sườn 02 bên;
- + Phổi phải dính vào thành ngực;
- + Đông đặc thùy dưới 02 phổi;
- + Xơ gan;
- + Niêm mạc thực quản sung huyết, các mạch máu nổi rõ;
- + Dạ dày có nhiều máu không đông;
- + Niêm mạc dạ dày sung huyết, xuất huyết;
- + Gãy 1/3 trên xương đùi trái.
- Nguyên nhân chết:
Gãy xương đùi trái/Xuất huyết tiêu hóa do viêm loét dạ dày, xơ gan, gan thoái hóa mỡ nặng.
Vật chứng thu giữ: 01 tròng kính màu trắng có kích thước 05cm x 03cm.
Trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa ngày 11/12/2024, chị Thạch Thị T1 và em Nguyễn Thành D1 là đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bồi thường viện phí, chi phí mai táng và tổn thất tinh thần số tiền 30.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số: 468/CT-VKSTPTĐ ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Nguyễn Văn D về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 134; điểm s khoản 1; điểm d, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 11 (mười một) năm đến 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/11/2022.
- - Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy đối với vật chứng là 01 tròng kính màu trắng có kích thước 05cm x 03cm do không có giá trị sử dụng.
- - Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường số tiền mà gia đình bị hại yêu cầu là 30.000.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi theo cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên, đồng ý với kết luận giám định, đồng ý bồi thường số tiền mà gia đình bị hại yêu cầu và không bào chữa, không tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi của mình, bị cáo rất ăn năn hối hận, bị cáo rất mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều đúng pháp luật.
[2] Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản ghi nhận sự việc, kết luận giám định giám định pháp y, biên bản thực nghiệm điều tra, vật chứng thu giữ... cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra về hành vi, thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sát nên có cơ sở xác định: Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 17/11/2022, tại ngã ba đường số A và đường H trước nhà số A, Đường A, khu phố V, phường L, thành phố T, trong lúc say rượu Nguyễn Văn D đã có hành vi sử dụng tay, chân đấm, đá nhiều cái vào người anh Nguyễn Anh T làm anh T bị nhiều thương tích, gãy xương sườn và xương đùi trái, sau đó đã chết.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của người khác, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn xã hội. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi gây thương tích là vi phạm pháp luật nhưng bản tính côn đồ, trong lúc say rượu đã không kiềm chế được bản thân nên bị cáo đã gây thương tích cho bị hại dẫn đến bị hại chết sau đó. Hành vi của bị cáo thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt:
Bị cáo cố ý gây thương tích dẫn đến hậu quả bị hại chết nên thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội có tính chất côn đồ, thuộc trường hợp tái phạm nên bị áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm d, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng, bị cáo thực hiện hành vi gây thương tích có tính chất côn đồ, coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác. Bên cạnh đó, bị cáo có nhân thân rất xấu, đã nhiều lần bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, trường G và đã 02 lần bị kết án, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nên Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo với mức án thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới đủ tác dụng trừng trị bị cáo, đồng thời răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã 02 lần trả hồ sơ để điều tra bổ sung yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức xác định rõ nguyên nhân chết của nạn nhân T để xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi của bị cáo đối với hậu quả bị hại chết. Đồng thời, xác định hành vi bị cáo D có cấu thành tội “Giết người” theo Điều 123 Bộ luật Hình sự hay không? Tuy nhiên, cả 02 lần Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do giới hạn của việc xét xử cũng như thẩm quyền xét xử, Hội đồng xét xử sơ thẩm đưa vụ án ra xét xử theo tội danh, điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử sơ thẩm kiến nghị các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền xem xét đối với hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự hay không để giải quyết, xét xử vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
[6] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Đại diện hợp pháp của gia đình bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 30.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường số tiền nêu trên nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 tròng kính màu trắng có kích thước 05cm x 03cm là vật chứng vụ án, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 134; điểm s khoản 1; điểm d, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,
- Kiến nghị các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền xem xét đối với hành vi của bị cáo Nguyễn Văn D có phạm tội “Giết người” theo Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 hay không để giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015,
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D: 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/11/2022.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn D bồi thường cho gia đình bị hại Nguyễn Anh T (gồm chị Thạch Thị T1, em Nguyễn Thành D1 và em Nguyễn Thị T2) số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 tròng kính màu trắng có kích thước 05cm x 03cm.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 468/QĐ-VKSTPTĐ ngày 05/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và Phiếu nhập kho số NK24/449C ngày 06/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).
Buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Anh Ngọc |
Bản án số 74/2025/HS-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 74/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn D phạm tội "Cố ý gây thương tích"
