|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 74/2025/HS-ST
Ngày 10-6-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Diệu Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Thiện
Bà Mai Thị Duyên
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thiệm - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 54/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Thanh P, sinh ngày 31 tháng 7 năm 2005, tại Thanh Hoá. Nơi ĐKHKTT: Thôn P, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở hiện nay: Số H P, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh B và bà Lê Thị T, chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 27/12/2024; có mặt.
- Khoa Kim D, sinh ngày 16 tháng 6 năm 2005, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số E N, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Khoa Kim C và bà Phạm Thị H, chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 27/12/2024; có mặt.
- Bị hại:
- + Cháu Nguyễn Mạnh T1, sinh năm 2011; nơi cư trú: Số B T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Người diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Hải Đ; nơi cư trú: Số B T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- + Cháu Vũ Minh Đ1, sinh năm 2009; nơi cư trú: Số I H, tổ H phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Người diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị H1; nơi cư trú: Số I H, tổ H phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- + Cháu Nguyễn Bình M, sinh năm 2012; nơi cư trú: Ngõ B T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Người diện hợp pháp của bị hại: Bà Cao Thị T2; nơi cư trú: Ngõ B T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- + Cháu Nguyễn Khắc Gia B1, sinh năm 2011; nơi cư trú: Số B T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Người diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị Minh H2; nơi cư trú: Số B T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Phạm Văn Đ2; nơi cư trú: Số A T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- + Ông Ngô Văn H3; nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- + Anh Phùng Huy V; nơi cư trú: Số G tổ B phường T, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- + Anh Quách Tiến D1; nơi cư trú: Số F H, phường P, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 21/12/2024, Nguyễn Thanh P rủ Khoa Kim D cùng nhau đi lang thang trên địa bàn thành phố Hải Phòng để tìm nơi sơ hở trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài. P và D cùng thống nhất sẽ cùng nhau sử dụng xe mô tô mang nhãn hiệu Honda SH 150i, màu đen, BKS: 15B4 – 268.32 (Dương mượn của mẹ đẻ là bà Phạm Thị H) đi lang thang trên đường thấy nơi nào sơ hở sẽ trộm cắp tài sản. Vào các ngày 22/12/2024 và 23/12/2024, P và D đã 04 (bốn) lần cùng nhau thực hiện hành vi trộm cắp xe đạp, cụ thể:
Lần thứ nhất:
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 22/12/2024, D điều khiển xe mô tô BKS: 15B4 - 268.32 chở P đi qua quán I, địa chỉ tại số A đường L, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng thấy phía trước cửa quán có để nhiều xe đạp và không có người trông coi nên D đã dừng xe ở khu vực ngã tư N cảnh giới để P đi bộ đến trước cửa quán và quan sát thấy không có ai để ý nên đã lấy 01 (một) xe đạp thể thao nhãn hiệu BIKENB MT460 màu xanh - đen của cháu Nguyễn Mạnh T1, sinh năm 2011; nơi cư trú: Số B đường T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng đang chơi điện tử bên trong quán. Sau khi trộm cắp được xe, P điều khiển xe đạp, còn D điều khiển xe mô tô cùng nhau đi đến khu thu mua phế liệu tại số A đường L, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng bán cho anh Phạm Văn Đ2, sinh năm 1986 với giá 120.000 đồng (Một trăm hai mươi nghìn đồng).
Lần thứ hai:
khoảng 14 giờ 00 phút ngày 22/12/2024, D điều khiển xe mô tô BKS: 15B4 - 268.32 chở P đi đến quán B2 có địa chỉ tại lô A T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng thì thấy phía trước cửa quán có để nhiều xe đạp và không có người trông coi nên D đã dừng xe ở khu vực lề đường cách cửa quán B2 - Internet Victorry khoảng 50m và đứng cảnh giới để P đi bộ đến trước của quán và quan sát thấy không có ai trông coi nên đã lấy 01 (một) xe đạp nhãn hiệu California S570 màu sơn đen - trắng của cháu Vũ Minh Đ1, sinh năm 2009; nơi cư trú: Số I H, tổ H, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng đang chơi điện tử bên trong quán. Sau khi trộm cắp được xe, P điều khiển xe đạp, còn D điều khiển xe mô tô cùng nhau đi đến cửa hàng mua bán xe đạp cũ tại số B N, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng để bán. Tại đây, P đứng ngoài, còn D mang xe đạp vừa trộm cắp được bán cho ông Ngô Văn H3, sinh năm 1972; nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng với giá 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Lần thứ ba:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 22/12/2024, khi D điều khiển xe mô tô BKS: 15B4 - 268.32 chở P đi qua quán I tại số A đường L, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng thì thấy phía trước cửa quán có để nhiều xe đạp và không có người trông coi nên D đã dừng xe ở khu vực ngã tư N và đứng cảnh giới để P đi bộ đến trước của quán và quan sát thấy không có ai trông coi nên đã lén lút lấy 01 (một) xe đạp thể thao, nhãn hiệu Galaxy LP400 màu trắng của cháu Nguyễn Bình M, sinh năm 2012; nơi cư trú: Số B đường T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng đang chơi điện tử bên trong quán. Sau khi trộm cắp được xe, P điều khiển xe đạp, còn D điều khiển xe mô tô cùng nhau đi đến quán cầm đồ tại số A đường N, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng để cầm cố vay tiền. Tại đây, P đứng ngoài, còn D mang xe đạp vừa trộm cắp được cầm cố vay 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) của anh Phùng Huy V, sinh năm 2006; nơi cư trú: Số G B, tổ B, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng.
Lần thứ tư:
Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 23/12/2024, khi D điều khiển xe mô tô BKS: 15B4 - 268.32 chở P đi qua số nhà B T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng thì phát hiện có 01 xe đạp thể thao nhãn hiệu Galaxy A5 màu đen- xanh của cháu Nguyễn Khắc Gia B1, sinh năm 2011; nơi cư trú: Số B T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng nên D dừng xe cách đó khoảng 100m cảnh giới để P xuống xe, đi bộ vào tìm cách trộm chiếc xe đạp này. Sau khi trộm cắp được xe, P điều khiển xe đạp, còn D điều khiển xe mô tô cùng nhau đi đến quán M1 tại số C đường L, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng bán cho anh Quách Tiến D1, sinh năm 1977; nơi cư trú: Số F H, phố P, quận H, thành phố Hải Phòng với giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).
Ngày 24/12/2024, Nguyễn Thanh P và Khoa Kim D đến Công an phường Đ đầu thú.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 53/KL-HĐĐGTS ngày 24/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận H, kết luận: 04 chiếc xe đạp thể thao có tổng giá trị là 7.200.000 đồng (Bảy triệu hai trăm nghìn đồng), trong đó: 01 xe đạp nhãn hiệu Galaxy A5 màu sơn đen - xanh nước biển trị giá 1.950.000 đồng, 01 xe đạp thể thao nhãn hiệu BIKENB MT460 màu xanh đen trị giá 950.000 đồng, 01 xe đạp thể thao, nhãn hiệu Galaxy LP400 màu trắng trị giá 2.300.000 đồng, 01 xe đạp nhãn hiệu California S570 màu sơn đen - trắng trị giá 2.000.000 đồng.
Tại Bản Kết luận giám định số 934/KL-KTHS ngày 15 tháng 01 năm 2025 của Phòng K Công an thành phố H kết luận về số khung, số máy của xe mô tô mang BKS: 15B4 – 268.32 như sau: Xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu: HONDA mang biển kiểm soát: 15B4-268.32, có số khung: *ZDCKF08A05F024471* và số máy: KF08E*0024121*KTGE1 là số nguyên thủy, không phát hiện thấy có sự tẩy xóa, sửa chữa các ký tự.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thanh P và Khoa Kim D đều thừa nhận hành vi lén lút chiếm đoạt xe đạp để bán, cầm cố lấy tiền sử dụng chung vào việc chơi điện tử, tiền ăn uống sinh hoạt, phù hợp với biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường, vật chứng thu giữ, Kết luận định giá, Kết luận giám định, lời khai của các bị hại, lời khai của những người có liên quan và tài liệu, chứng cứ đã thu thập được.
Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu; xử lý vật chứng:
Ngày 24/12/2024, các anh Phạm Văn Đ2; ông Ngô Văn H3; anh Phùng Huy V; anhQuách Tiến Dũng tự nguyện giao nộp: 01 (một) xe đạp thể thao nhãn hiệu BIKENB MT460 màu xanh đen; 01 (một) xe đạp dạng xe thể thao nhãn hiệu CALIFORNIA S570 màu đen; 01 (một) xe đạp thể thao, nhãn hiệu Galaxy GLX LP400 màu trắng đỏ, líp 7 tầng, đùi đĩa 3 tầng; 01 (một) chiếc xe đạp nhãn hiệu Galaxy A5 màu đen xanh.
Ngày 24/12/2024, ra đầu thú, Nguyễn Thanh P và Khoa Kim D đã giao nộp: 01 (một) xe mô tô mang nhãn hiệu Honda SH 150i, màu đen, BKS: 15B4 - 268.32, là xe mà P và D đã sử dụng trong quá trình đi trộm cắp tài sản.
Ngày 24/4/2025 Cơ quan điều tra đã Quyết định trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Phạm Thị H xe mô tô BKS: 15B4 – 268.32 và các anh Nguyễn Mạnh T1, Vũ Minh Đ1, Nguyễn Bình M, Nguyễn Khắc Gia B1 những chiếc xe đã bị trộm cắp.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo Khoa Kim D đã trả lại cho các anh Phạm Văn Đ2 120.000 đồng, ông Ngô Văn H3 300.000 đồng, anh Phùng Huy V 500.000 đồng, anh Quách Tiến D1 500.000 đồng. Các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều không yêu cầu bị can P và bị can D bồi thường dân sự và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị can P và D.
Tại Cáo trạng số 59/CT-VKS ngày 28 tháng 4 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh P, Khoa Kim D về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thanh P, Khoa Kim D khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung Bản Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An truy tố. Các bị cáo Nguyễn Thanh P, Khoa Kim D nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xử mức án thấp nhất.
Kiểm sát viên tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Thanh P, Khoa Kim D về tội danh, điều luật áp dụng như cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh P, Khoa Kim D đồng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh P 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản. Thời gian thử thách là 30 tháng đến 36 tháng. Giao bị cáo Nguyễn Thanh P cho Ủy ban nhân dân phường H, quận D, thành phố Hải Phòng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Khoa Kim D 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản. Thời gian thử thách là 24 đến 30 tháng. Giao bị cáo Khoa Kim D cho Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Căn cứ Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo Nguyễn Thanh P, Khoa Kim D.
Về án phí: Bị cáo P, D mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo; Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Khoa Kim D đã bồi thường cho anh Phạm Văn Đ2 120.000 đồng, ông Ngô Văn H3 300.000 đồng, Phùng Huy V 500.000 đồng, anh Quách Tiến D1 500.000 đồng. Các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều không yêu cầu bị cáo D và bị cáo P bồi thường dân sự nên không xem xét giải quyết; các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Thanh P, Khoa Kim D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ, Kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở khẳng định vào các ngày 22/12/2024 và 23/12/2024, các bị cáo đã có hành vi lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, lén lút chiếm đoạt 01 xe đạp nhãn hiệu Galaxy A5 màu sơn đen - xanh nước biển trị giá 1.950.000 đồng; 01 xe đạp thể thao nhãn hiệu BIKENB MT 460 màu xanh đen trị giá 950.000 đồng; 01 xe đạp thể thao, nhãn hiệu Galaxy LP400 màu trắng trị giá 2.300.000 đồng; 01 xe đạp nhãn hiệu California S570 màu sơn đen - trắng trị giá 2.000.000 đồng. Tổng trị giá các tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt là 7.200.000 đồng (Bảy triệu hai trăm nghìn đồng). Như vậy hành vi của các bị cáo Nguyễn Thanh P, Khoa Kim D đồng phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
- Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
+ Về nhân thân:
[3] Các bị cáo Nguyễn Thanh P, Khoa Kim D có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
+ Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[4] Các bị cáo Nguyễn Thanh P, Khoa Kim D bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội 2 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
+ Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
[5] Sau khi phạm tội các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khi phạm tội đã ra đầu thú, các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo P và D (riêng bị cáo Khoa Kim D đã bồi thường thiệt hại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) nên các bị cáo P, D được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về vai trò của các bị cáo:
[6] Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo P và D đều không bàn bạc trước về việc trộm cắp tài sản. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Nguyễn Thanh P có vai trò cao hơn bị cáo Khoa Kim D với lý do bị cáo Nguyễn Thanh P là người rủ rê Khoa Kim D cùng nhau đi lang thang để tìm nơi sơ hở trộm cắp tài sản, bị cáo D đứng ngoài cảnh giới để bị cáo P vào trộm cắp tài sản. Sau khi trộm cắp được tài sản, các bị cáo cùng nhau tiêu thụ tài sản trộm cắp và cùng nhau sử dụng số tiền sau khi tiêu thụ tài sản. Riêng bị cáo Khoa Kim D đã bồi thường thiệt hại cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Về hình phạt chính:
[7] Tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Các bị cáo Nguyễn Thanh P, Khoa Kim D có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khi phạm tội đã ra đầu thú, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, đã bồi thường thiệt hại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, nên Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải buộc các bị cáo phải cách ly khỏi xã hội mà áp dụng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện đối với bị cáo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt bổ sung:
[8] Các bị cáo Nguyễn Thanh P, Khoa Kim D không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự:
[9] Bị cáo Khoa Kim D đã trả lại cho anh Phạm Văn Đ2 120.000 đồng, anh Ngô Văn H3 300.000 đồng, anh Phùng Huy V 500.000 đồng, anh Quách Tiến D1 500.000 đồng. Các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều không yêu cầu bị cáo D và bị cáo P bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về xử lý vật chứng:
[10] Ngày 24/4/2025 Cơ quan điều tra đã Quyết định trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Phạm Thị H xe mô tô BKS: 15B4 – 268.32 và trả lại cho bị hại và người đại diện hợp pháp 01 (một) xe đạp thể thao nhãn hiệu BIKENB MT460 màu xanh đen; 01 (một) xe đạp dạng xe thể thao nhãn hiệu CALIFORNIA S570 màu đen; 01 (một) xe đạp thể thao, nhãn hiệu Galaxy GLX LP400 màu trắng đỏ, líp 7 tầng, đùi đĩa 3 tầng; 01 (một) chiếc xe đạp nhãn hiệu Galaxy A5 màu đen xanh là tài sản đã bị trộm cắp; nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí:
[11] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo:
[12] Các bị cáo, bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[13] Đối với hành vi của Phạm Văn Đ2, Ngô Văn H3, Phùng Huy V, Quách Tiến D1 do không biết tài sản do các bị cáo Khoa Kim D, Nguyễn Thanh P phạm tội mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H không xử lý về hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự (áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Khoa Kim D).
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh P, Khoa Kim D đồng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh P 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản. Thời gian thử thách là 30 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Thanh P cho Ủy ban nhân dân phường H, quận D, thành phố Hải Phòng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.
Xử phạt: Bị cáo Khoa Kim D 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản. Thời gian thử thách là 24 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Khoa Kim D cho Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.
Trong thời gian thử thách, nếu những người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:
“1. Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
2. Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
3. Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật Thi hành án hình sự.
4. Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách..."
Căn cứ Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo Nguyễn Thanh P, Khoa Kim D.
Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc: Các bị cáo Nguyễn Thanh P, Khoa Kim D mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Diệu Hương |
Bản án số 74/2025/HS-ST ngày 10/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 74/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: P, D - Trộm cắp tài sản
